phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng thƣơng mại; 8 Chƣơng 2: Thực trạng phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Bắc Thanh Hóa; Chƣơng 3: Giải pháp phát triển dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Bắc Thanh Hóa. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG TIỀN MẶT CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Tổng quan về dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt tại ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm TTKDTM là phƣơng thức thanh toán đƣợc sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nhiều quốc gia do tính hiệu quả và thuận tiện mà dịch vụ này mang lại. Theo đó, dịch vụ TTKDTM đƣợc các tác giả tiếp cận với những khái niệm nhƣ sau: Dịch vụ TTKDTM là việc cung ứng các phƣơng thức và công cụ trong thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ mà không có sự xuất hiện của tiền mặt, theo đó, quá trình thanh toán đƣợc tiến hành bằng cách, trích tiền từ tài khoản của ngƣời chi trả chuyển vào tài khoản của ngƣời thụ hƣởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (Nguyễn Thị Nguyệt Dung, Nguyễn Hữu Cung, 2018). Tham gia vào hoạt động TTKDTM có các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán: tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán gồm NHTM và các tổ chức khác đƣợc NHNN cấp phép; tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ thanh toán là các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế có nhu cầu sử dụng dịch vụ thanh toán để thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ trong quan hệ thƣơng mại.
Theo Lƣơng Minh Lan (2018), “TTKDTM là quan hệ chi trả tiền giữa người mắc nợ và chủ nợ phát sinh trong quá trình mua bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ thông qua tài khoản của mình tại đơn vị trung gian là ngân hàng”. Theo Nguyễn Văn Tiến (2013), “TTKDTM là phương thức thanh toán, trong đó tiền mặt không xuất hiện, thay vào đó, là việc ghi nợ tài khoản tiền gửi của người trả tiền và ghi có vào tài khoản tiền gửi của người nhận tiền thông qua các tổ chức trung gian cung ứng dịch vụ thanh toán”. Theo đó, TTKDTM có đặc điểm 10 nhƣ sau: không sử dụng đến tiền mặt, mà thay vào đó là tiền chuyển khoản hay tiền ghi sổ, bút tệ; việc thanh toán diễn ra qua trung gian là tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán; điều kiện tiên quyết để thực hiện TTKDTM là khách hàng phải mở tài khoản thanh toán tại NHTM và NHTM phải cung ứng dịch vụ thanh toán. Theo Đặng Công Hoàn (2016), “TTKDTM là một hoạt động dịch vụ thanh toán được thực hiện bằng cách sử dụng các công cụ/phương thức thanh toán để bù trừ tiền từ tài khoản/hạn mức tiền của người phải trả sang tài khoản của người thụ hưởng hoặc được bù trừ lẫn nhau thông qua đơn vị cung ứng dịch vụ thanh toán”.
Trong phạm vi luận văn này, khái niệm dịch vụ TTKDTM có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: dịch vụ TTKDTM là phương thức thanh toán không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người chi trả chuyển vào tài khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò trung gian của các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Vai trò Thanh toán không dùng tiền mặt đã tạo ra những thuận lợi to lớn đối với toàn xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhờ những ƣu điểm vƣợt trội của nó so với thanh toán dùng tiền mặt. Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế thị trƣờng (Nguyễn Văn Tiến, 2013). Đối với nền kinh tế Thanh toán không dùng tiền mặt giúp thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ chu chuyển vốn, chu kỳ sản xuất đƣợc rút ngắn, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất và tác động trực tiếp đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nó đƣợc coi là khâu đầu tiên và cũng là khâu cuối cùng trong quá trình sản xuất và liên quan đến toàn bộ lĩnh vực lƣu thông hàng hóa, tiền tệ của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Đồng thời, thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế khác trong xã hội. Do đó, thanh toán không dùng tiền mặt có vai trò rất to lớn đối với nền kinh tế, đặc biệt là với nền kinh tế thị trƣờng nhƣ hiện nay. Đối với ngân hàng Cung cấp dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt cho khách hàng và nền 11 kinh tế tạo điều kiện cho ngân hàng gia tăng thêm thu nhập từ việc thu phí dịch vụ.
Từ đó thay đổi cơ cấu thu nhập trong tổng thu nhập, nâng cao khả năng tài chính, khả năng cạnh tranh và tạo sự phát triển bền vững. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt mang lại hiệu quả kinh tế to lớn cho các NHTM, nhờ việc khai thác và sử dụng linh hoạt nguồn vốn tiền gửi thanh toán của các tổ chức kinh tế và cá nhân trên tài khoản tiền gửi thanh toán. Đồng thời, kích thích các hoạt động dịch vụ ngân hàng liên quan phát triển nhƣ: dịch vụ thẻ, dịch vụ chuyển tiền điện tử, thanh toán trực tuyến. Đây cũng chính là điều kiện để thu hút, hấp dẫn khách hàng quan hệ với ngân hàng.
Thông qua hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, ngân hàng nắm đƣợc những thông tin về tình hình thanh toán, hoạt động của khách hàng, là những thông tin có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng. Đối với khách hàng. Thanh toán qua ngân hàng mang lại lợi ích to lớn cho khách hàng, nhờ việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn, tiết kiệm đƣợc các chi phí phát sinh (chi phí vận chuyển, chi phí kiểm đếm…) từ đó giảm chi phí đầu vào, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt bảo đảm tiện lợi, nhanh chóng, chính xác, an toàn và bảo mật cho khách hàng.
Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi mức độ ứng dụng công nghệ thông tin của các NHTM trong hoạt động thanh toán ngày càng cao, cụ thể: chỉ bằng một lệnh của chủ tài khoản, một giao dịch có thể thực hiện đƣợc ngay không kể không gian và địa điểm giao dịch nhờ công nghệ mạng, công nghệ chuyển tiền điện tử. Đây là tiện ích thanh toán nói chung và thanh toán không dùng tiền mặt nói riêng trong ứng dụng công nghệ thông tin hiện nay. Sự đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trong hoạt động thanh toán (nhất là các loại thẻ ngân hàng), tạo điều kiện cho khách hàng có nhiều sự chọn lựa trong việc sử dụng các dịch vụ sao cho có lợi nhất: tiện ích và chi phí giao dịch thấp nhất. 12 Đối với khách hàng là doanh nghiệp, thanh toán không dùng tiền mặt sẽ đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn và quá trình sản xuất trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo an toàn về vốn và tài sản, tránh đƣợc rủi ro.
Đối với xã hội Trong lĩnh vực lƣu thông tiền tệ, thanh toán không dùng tiền mặt góp phần làm giảm tỷ trọng tiền mặt lƣu thông, do đó tiết kiệm đƣợc chi phí lƣu thông trong xã hội. Mặt khác, thanh toán không dùng tiền mặt tạo điều kiện cho các TCTD khai thác tốt chức năng trung gian thanh toán, thực hiện quá trình chu chuyển tiền tệ cho nền kinh tế, khai thác và sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế; tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc tiến hành trôi chảy, nhịp nhàng, thúc đẩy đồng vốn luân chuyển nhanh chóng, góp phần đẩy nhanh tốc độ sản xuất, luân chuyển hàng hóa. Thanh toán không dùng tiền mặt cũng góp phần hạn chế nạn tiền giả, nạn rửa tiền, trộm cắp, lừa đảo; tạo thói quen thanh toán và sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại của ngƣời dân, tạo môi trƣờng thanh toán văn minh, lịch sự, thuận tiện và nhanh chóng.3 Các phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt 1. Thanh toán bằng ủy nhiệm chi - Khái niệm Uý nhiệm chi (UNC): Là lệnh chi tiền do chủ tải khoản lập theo mẫu của ngân hàng yêu cầu ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán (TGTT) trích một số tiền nhất định từ tài khoán của mình chuyển vào tài khoản TGTT của bên thụ hƣởng.
Thanh toán bằng UNC: Là phƣơng thức thanh toán đƣợc ngân hàng thực hiện theo ủy nhiệm của khách hàng bằng cách trích chuyển tiền trên tài khoản TGTT của khách hàng lập UNC sang tài khoản TGTT của bên thụ hƣởng (Trầm Thị Xuân Hƣơng, 2013). - Các bên tham gia Tham gia vào hình thức thanh toán UNC thƣờng có 3 chú thể: bên lập UNC (là ngƣời có nghĩa vụ chi trả, là ngƣời mua hoặc ngƣời có nhu cầu chuyển tiền đi từ 13 tài khoản TGTT của mình), bên thụ hƣởng (là ngƣời đƣợc hƣởng số tiến trên UNC, là ngƣời bán hoặc là ngƣời nhận chuyển tiền) và ngân hàng (Nếu bên lập UNC và bên thụ hƣởng mở tài khoản TGTT tại một ngân hàng thì ngân hàng đó là chủ thể thứ 3. Nhƣng nếu ngƣời bên lập UNC và bên thụ hƣởng mở tài khoản TGTT lại hai ngân hàng khác nhau thì sẽ có ít nhất hai ngân hàng - ngân hàng bên chi trả và ngân hàng bên thụ hƣởng - tham gia vào quá trình thanh toán). - Quy trình thanh toán + Bên chi trả và bên thụ hƣởng mở tài khoản tại cùng một ngân hàng Bên thụ hƣởng Bên chi trả (Ngƣời bán) (Ngƣời mua) (2b) (1) (2a) Ngân hàng Hình 1.
Quy trình thanh toán bằng UNC tại cùng một ngân hàng Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2013 Bƣớc 1: Bên chi trả lập UNC gửi đến ngân hàng phục vụ mình. Bƣớc 2: Ngân hàng thực hiện thanh toán theo UNC. Bƣớc 2a: Ngân hàng kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của UNC và số dƣ tài khoản TGTT của bên chi trả. Nếu UNC hợp lệ, hợp pháp và số dƣ trên tài khoản TGTT đủ thanh toán, ngân hàng tiến hành ghi nợ và báo nợ cho bên chi trả.
Bƣớc 2b: Ngân hàng đồng thời ghi có và báo có cho bên thụ hƣởng.