mở đầu cho việc tiếp thu những kiến thức khoa học do loài người phát hiện ra, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện nhân cách trong tương lai. Dưới góc nhìn tâm lý học thì đây là quá trình chuyển hoạt động chủ đạo từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học tập (Hoạt động học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo bắt đầu được hình thành và phát triển).Elcônhin, đặc điểm cơ bản của môi trường nhà trường đối với học sinh lớp 1 là: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 17 - Đến trường, trẻ bước vào “xã hội công dân” với vai trò, vị trí mới trong cuộc sống, hình thành quan hệ xã hội mới: thầy – trò, bạn bè cùng học và với chính bản thân mình. - Vào trường, trẻ bắt buộc tuân thủ các quy tắc, luật lệ cho mọi người – những quy tắc ứng xử xã hội quy định hành vi cá nhân. Ví dụ: phải làm việc theo lệnh của thầy, phải giữ trật tự… - Vào trường trẻ học cách cư xử với thế giới xung quanh, cư xử bằng khái niệm khoa học, trên cơ sở tư duy khoa học.
Tất cả những đặc điểm trên được quyết định và thể hiện tập trung ở hoạt động chủ đạo mới: hoạt động học tập. [Theo (12), tr55 - 56] Như vậy, lớp 1 là lớp học đầu tiên của bậc tiểu học, ở đó phần đông là trẻ 6 tuổi, bắt đầu được tiếp thu những kiến thức khoa học do loài người phát hiện ra. Thông qua hoạt động chủ đạo mới là hoạt động học tập ở lớp 1, trẻ phải tuân thủ các quy tắc của nhà trường; thay đổi cách ứng xử với thế giới xung quanh bằng các khái niệm khoa học trên cơ sở tư duy khoa học; hình thành quan hệ xã hội mới giữa thầy - trò, bạn bè và với chính bản thân mình. Khái niệm “Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” Theo Tiến sĩ Giáo dục học Đặng Thị Phương Mai, sự sẵn sàng đi học lớp 1 là sự đạt được một mức độ phát triển về thể chất, tâm lý, xã hội cho phép trẻ sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của trường tiểu học.
[Theo (12)] Như vậy, sự sẵn sàng đi học lớp 1, theo định nghĩa trên, bao gồm: khả năng sẵn sàng về mặt tâm lý, khả năng sẵn sàng về thể chất và khả năng sẵn sàng về mặt xó hội. Đây là ba yếu tố đủ để tạo nên sự sẵn sàng đi học cho trẻ 6 tuổi vào lớp 1. Tuy nhiên trong cách diễn đạt định nghĩa cũn nhắc lại từ ngữ của khỏi niệm “sẵn sàng đi học”. “Sẵn sàng” theo từ điển tiếng Việt, đó là trạng thỏi cú thể sử dụng hoặc hành động được ngay do đó được chuẩn bị đầy đủ từ trước.
Theo cỏch hiểu này, định nghĩa trên có thể diễn đạt lại như sau: Sự sẵn sàng đi học lớp 1 là sự đạt được một mức độ phát triển nhất định về thể chất, tõm lý, xó LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 18 hội cho phộp trẻ 6 tuổi đáp ứng được những yêu cầu mà lớp 1 ở trường tiểu học đề ra. Định nghĩa trên về “sự sẵn sàng đi học” của Đặng Thị Phương Mai đã khái quát được đầy đủ các yếu tố của sự sẵn sàng đi học của trẻ 6 tuổi. Đây là những nội dung rất gần với khái niệm “tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” của đề tài nghiên cứu. Tuy nhiên hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau.
Nếu núi về tõm lý sẵn sàng đi học lớp 1 thì sự phỏt triển thể chất ở đây chỉ nói về sự phát triển tâm vận động. Cũng bàn về khái niệm “sẵn sàng đi học” của trẻ đến tuổi vào lớp 1, Nguyễn Thị Hồng Nga lại có định nghĩa như sau: Sẵn sàng đi học là trạng thái của trẻ em đã được chuẩn bị đầy đủ về mặt trí tuệ, hành vi ý chí, khả năng thích ứng với môi trường học đường và nhu cầu hứng thú đi học. Ở đây, tác giả đã căn cứ vào Quyết định 55 của Bộ Giáo dục & Đào tạo (năm 1990) quy định mục tiêu, kế hoạch đào tạo của nhà trẻ – trường mẫu giáo và Chuẩn đánh giá chất lượng mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) của Vụ mầm non 1996, khi bước chân vào trường phổ thông trẻ phải được chuẩn bị cả về mặt tinh thần lẫn về thể chất cho việc học tập, tức là chuẩn bị tâm lý sẵn sàng đi học cho trẻ. Trẻ sẵn sàng bước vào thời kỳ mới quan trọng trong cuộc sống của mình, sẵn sàng thực hiện những yêu cầu đa dạng mà nhà trường đề ra cho các em.
Trước hết trẻ phải được chuẩn bị tâm lý cho việc học ở trường phổ thông, nghĩa là nó có một trình độ phát triển tâm lý cần thiết để bắt đầu học tập: - Trình độ phát triển trí tuệ. - Có kỹ năng ban đầu trong lĩnh vực học tập (như kỹ năng cầm bút, kỹ năng thực hiện theo tín hiệu. - Phải biết điều khiển hành vi của mình một cách có chủ định. - Biết xây dựng quan hệ qua lại với trẻ khác.
- Có nguyện vọng, hứng thú đối với việc đến trường (quan trọng). - Ngoài ra cần phải tính đến những đặc điểm về mức độ phát triển thể chất khi trẻ bước vào lớp 1. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 19 Toàn bộ những điều kiện trên tạo nên cái được gọi là “sự sẵn sàng đi học” [Theo (13), Tr 34]. Đây là định nghĩa khá đầy đủ và chi tiết.
Tuy nhiên để tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm “tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” của trẻ 6 tuổi, chúng tôi tiếp tục xem xét tài liệu mới nhất của Vụ Giáo dục Mầm non: “Hướng dẫn thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi”. Trong đó nêu rõ mục tiờu chăm sóc giáo dục trẻ mẫu giỏo 5 - 6 tuổi bao gồm: Phỏt triển tỡnh cảm và quan hệ xó hội, phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển thể chất. Theo đó, trẻ 6 tuổi trũn được coi là có khả năng sẵn sàng đi học khi có đủ 4 điều kiện trên: sự phát triển tỡnh cảm và quan hệ xó hội, sự phỏt triển nhận thức, sự phát triển ngôn ngữ và sự phát triển thể chất. Ở phạm vi đề tài này, sự phát triển thể chất là sự phát triển tâm vận động.
Từ những quan điểm trên, chúng tôi tán thành nhất với định nghĩa của Nguyễn Thị Hồng Nga và khái quát thành định nghĩa “tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1” của đề tài nghiên cứu như sau: Tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 là trạng thái của trẻ 6 tuổi đã được chuẩn bị đầy đủ về mặt trí tuệ, động cơ, ý chí, tình cảm - quan hệ xã hội và các kỹ năng vận động cho phép trẻ đáp ứng được ngay những yêu cầu của lớp 1 trường tiểu học. Như vậy, tâm lý sẵn sàng đi học lớp 1 của trẻ 6 tuổi là sự thống nhất toàn diện giữa các mặt trí tuệ, động cơ, hứng thú đi học, khả năng làm chủ hành vi cùng với các kỹ năng, tình cảm xã hội và khả năng thành thục của hệ thần kinh. Trẻ có đầy đủ các yếu tố này sẽ dễ dàng thích nghi ngay với hoạt động học tập ở lớp 1 và các hoạt động khác ở trường tiểu học. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ SẴN SÀNG ĐI HỌC CỦA TRẺ EM TRÒN 6 TUỔI.
Khái niệm “hoạt động chủ đạo”. Cơ cấu hoạt động có hai hình thái (hình thức): bên ngoài và bên trong. Tức là có sự chuyển hoá về hình thức của một bản chất. Hình thái bên ngoài được coi là cơ sở.
Việc tổ chức quá trình chuyển hoá của hoạt động - từ hình thái bên ngoài, vật chất, chuyển thành hình thái bên trong, tinh thần, thành nhân cách LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 20 của mỗi đứa trẻ. Nhưng quá trình sống hiện thực không bao giờ chỉ xẩy ra một chiều mà còn có quá trình biến hoá ngược lại - từ hình thái bên trong, tinh thần, chuyển thành hình thái bên ngoài, vật chất. Sự chuyển hoá liên tục giữa hoạt động bên trong và hoạt động bên ngoài (giữa xuất tâm và nhập tâm) trong quá trình vận hành của hoạt động từ khi bắt đầu đến khi kết thúc hoạt động (xuất hiện sản phẩm của hoạt động trong hiện thực). Nguyên lý cơ bản của giáo dục là biến những thành tựu của xã hội loài người thành tài sản cho mỗi cá nhân.
Muốn thế phải tổ chức được hoạt động bên ngoài của đứa trẻ. Mỗi đối tượng lĩnh hội xác định một hoạt động. Vì vậy, tổ chức hệ thống các hoạt động của trẻ em bằng cách tổ chức chính bản thân hệ thống các đối tượng và tổ chức sự phát triển của hệ thống này. Thực chất của việc tổ chức hệ thống đối tượng là ngày càng cụ thể hoá hai lớp đối tượng A, B.
Trong đó: Lớp A gồm những quan hệ của trẻ em với người lớn, với xã hội; lớp B gồm những quan hệ của trẻ em với thiên nhiên, với thế giới đồ vật do loài người sáng tạo (hay phát hiện ra). Những đối tượng cho hoạt động lĩnh hội của trẻ trong các lớp A, B ấy thoạt đầu còn trừu tượng, chưa phân hoá, về sau ngày càng cụ thể hơn, càng phát triển triệt để hơn, thành những đối tượng cụ thể. Mỗi đối tượng này xác định một kiểu hoạt động. Sự phát triển các loại hình hoạt động là sơ sở hiện thực tạo ra sự phát triển của trẻ em.
Elkonhin cho rằng: Từ 0 - 1 tuổi: đối tượng hoạt động của trẻ thuộc lớp A: quan hệ giao lưu của trẻ với mẹ và người chăm sóc. Từ 1 - 3 tuổi: đối tượng hoạt động của trẻ thuộc lớp B: quan hệ của trẻ với thế giới đồ vật. Học cách sử dụng các đồ vật hàng ngày (cốc, thìa, bát.) theo kiểu người. Cuộc “khủng hoảng” năm 3 tuổi đánh dấu một sự chuyển biến của chủ thể đối với bản thân mình: một quan hệ C với bản thân mình.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 21 Từ 3 - 6 tuổi: đối tượng thuộc quan hệ A: các quan hệ, chuẩn mực trong cuộc sống hàng ngày. Từ 6 - 7 đến 11 - 12 tuổi: đối tượng thuộc lớp B: các tri thức khoa học Cuộc khủng hoảng thứ hai thường xẩy ra ở quãng 12 - 13 tuổi. Quan hệ C có một trình độ phát triển cao hơn lần đầu. Từ 12 đến 16,17 tuổi: đối tượng thuộc lớp A: quan hệ bạn bè, quan hệ thân tín.
Từ 18 tuổi trở đi: đối tượng thuộc lớp B: nghề nghiệp chuyên môn.