Mở đầu - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về sự phát triển tâm lý của học sinh Trung học cơ sở - Chƣơng 2: Cơ sở lí luận về sự phát triển tâm lý của học sinh Trung học cơ sở - Chƣơng 3: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu - Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về sự phát triển tâm lý của học sinh Trung học cơ sở - Kết luận và kiến nghị - Danh mục công trình công bố của tác giả - Danh mục tài liệu tham khảo 9 - Phụ lục. 10 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÝ CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ Ở Việt Nam, lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở (THCS) là giai đoạn đầu của sự chuyển tiếp từ thời kì thơ ấu sang thời kì trƣởng thành; tƣơng đƣơng với tuổi thiếu niên (từ 11 - 12 tuổi đến 14 - 15 tuổi). Trong khi đó, ở phƣơng Tây, giai đoạn chuyển tiếp này đƣợc gọi là adolescence (thanh thiếu niên). Lứa tuổi thanh thiếu niên ở các nƣớc phát triển thƣờng kéo dài hơn (khoảng từ 11 đến 20 tuổi).
Các nghiên cứu của tâm lý học phát triển ở phƣơng Tây tập trung nhiều vào lứa tuổi thanh thiếu niên và đầu lứa tuổi này - lứa tuổi thiếu niên (early adolescence). Sau đây, khái niệm thiếu niên nói chung đƣợc sử dụng tƣơng đƣơng với khái niệm học sinh THCS. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƢỚC Phát triển tâm lý con ngƣời nói chung, phát triển tâm lý trẻ em nói riêng đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học trên thế giới chú tâm tìm hiểu. Nhiều lí thuyết về sự phát triển tâm lý trẻ em đã đƣợc hình thành.
Một số các lý thuyết chính đƣợc biết đến nhƣ là những lý thuyết lớn đã cố gắng mô tả mọi khía cạnh của sự phát triển, thƣờng sử dụng phƣơng pháp tiếp cận giai đoạn. Những lí thuyết khác đƣợc biết đến nhƣ là những lí thuyết nhỏ, chỉ tập trung vào một khía cạnh của sự phát triển, chẳng hạn nhƣ sự phát triển nhận thức hoặc sự phát triển xã hội. Nhiều lý thuyết gần đây phác thảo các giai đoạn phát triển của trẻ em và xác định độ tuổi điển hình mà ở đó những sự kiện quan trọng xảy ra trong quá trình phát triển. Một số lí thuyết có nhiều ảnh hƣởng đến tâm lý học phát triển hiện đại có thể kể đến nhƣ: thuyết phân tâm của Sigmund Freud (1856 - 1939), lí thuyết phát triển xã hội của Erik H.
Erikson (1902 - 1994), thuyết hành vi, thuyết phát triển nhận 11 thức của Jean Piaget (1896 - 1980), học thuyết xã hội văn hoá của Lev Vygotxky (1896 - 1933)… Các lí thuyết khác nhau đều cố gắng mô tả các khía cạnh khác nhau của sự phát triển tâm lý của con ngƣời, cũng nhƣ lí giải sự phát triển dƣới nhiều góc độ khác nhau. Thuyết phân tâm tập trung vào sự phát triển tình cảm và xã hội, những vấn đề bên trong nội tâm con ngƣời. Thuyết hành vi chỉ quan tâm đến phản ứng có thể quan sát đƣợc. Thuyết phát triển nhận thức tập trung vào khía cạnh trí tuệ trong sự phát triển.
Các nhà tâm lý học Xô-viết thì coi trọng yếu tố hoạt động của chủ thể trong sự phát triển… Trong khi các nhà phân tâm học nhƣ Freud (1923) thì nhấn mạnh vai trò của yếu tố vô thức và bản năng tính dục, còn những ngƣời theo thuyết hành vi cho thấy tầm quan trọng của môi trƣờng, của sự học tập đối với sự phát triển tâm lý. Do vậy, mỗi lí thuyết lại có những điểm khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn, đối chọi nhau; song nếu nhìn ở một góc độ khác, chính những điểm trái ngƣợc lại bổ sung cho nhau, khiến tri thức tâm lý học thêm phong phú và đa chiều. Bên cạnh những đóng góp, các lí thuyết cũng có những hạn chế nhất định, khi quá tập trung, nhấn mạnh vào một khía cạnh của sự phát triển. Freud bị chỉ trích vì đã coi nhẹ vai trò của ý thức trong sự phát triển.
Thuyết hành vi bị phê phán vì coi con ngƣời nhƣ một cái máy, không tính đến tính tích cực của cá nhân. Một số quan điểm của Piaget cũng bị chỉ trích nhƣ vấn đề nhận thức luận di truyền (sự phát sinh cá thể tóm tắt sự phát sinh loài). Vì vậy, chúng tôi đồng thuận với quan điểm chiết trung: cần hiểu các lí thuyết phát triển cơ bản để có những gợi mở trong nghiên cứu và để có thể giải thích sự phát triển tâm lý của trẻ em. Là một lứa tuổi diễn ra nhiều thay đổi về mặt thể chất và tâm lý, tuổi thanh thiếu niên nói chung, thiếu niên nói riêng là đối tƣợng thu hút sự quan tâm của các nhà tâm lý học.
Trên cơ sở các lí thuyết, hàng loạt các nghiên cứu về nhiều vấn đề cụ thể của sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này đã đƣợc thực hiện. Các nghiên cứu này xoay quanh một số khía cạnh cơ bản của sự phát triển tâm lý nhƣ: nhận thức (tƣ duy, lập luận đạo đức, khả năng học tập…), quan hệ xã hội (quan hệ với cha mẹ, bạn bè, anh chị em ruột, giáo viên…), nhân cách (cái tôi, hình ảnh cái tôi, lòng tự trọng…), cảm xúc (trạng thái cảm xúc, năng lực cảm xúc, trí tuệ cảm xúc…)… 12 Sự phát triển tâm lý của thanh thiếu niên nói chung, học sinh THCS nói riêng diễn ra trên nhiều bình diện, nhiều phƣơng diện khác nhau. Mỗi tác giả, khi nghiên cứu lứa tuổi thanh thiếu niên, lại tập trung vào một số phƣơng diện mà họ thấy quan trọng. Trong cuốn sách “Tâm lý học phát triển - Thời thơ ấu và thanh thiếu niên” của mình, David R.
Shaffer (1993) tập trung vào 4 chủ đề: 1/ Sự phát triển về mặt sinh học. 2/ Ngôn ngữ, học tập và phát triển nhận thức. 3/ Sự phát triển xã hội và nhân cách (cảm xúc, cái tôi, vai trò giới). 4/ Hệ sinh thái của sự phát triển (gia đình và ngoài gia đình) [74].
Tƣơng tự, hai tác giả Grace J. Craig, Don Baucum (2001) phân chia sự phát triển tâm lý thanh thiếu niên thành 3 lĩnh vực chính sau: phát triển nhận thức và ngôn ngữ; phát triển cá nhân (các thuộc tính cá nhân); phát triển tâm lý xã hội và văn hóa (nhân cách, cảm xúc, quan hệ xã hội) [38]. Lerner cùng đồng nghiệp (2003) đề cập đến 5 vấn đề: 1/ Dậy thì, tình dục và sức khỏe. 2/ Phát triển nhận thức.
3/ Phát triển cảm xúc và nhân cách. 4/ Hành vi tích cực, hành vi có vấn đề và khả năng phục hồi. 5/ Mối quan hệ với cha mẹ và bạn đồng lứa [55]. Hội Tâm lý học Mỹ (APA) tập trung xem xét 4 bình diện của sự phát triển tâm lý ở thanh thiếu niên là: nhận thức (sự phát triển đạo đức, khả năng học tập); cảm xúc (phát triển bản sắc, lòng tự trọng, trí tuệ cảm xúc); xã hội (quan hệ với bạn cùng trang lứa, quan hệ với cha mẹ…) và hành vi [31].
Tóm lại, sự phát triển tâm lý của thanh thiếu niên nói chung, của học sinh THCS nói riêng có rất nhiều bình diện, nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau, sự phân loại các bình diện phát triển tâm lý còn chƣa hoàn toàn thống nhất về mức độ rộng hẹp. Có ngƣời thì gộp nhiều chủ đề trong một lĩnh vực, có ngƣời chia nhỏ các chủ đề thành nhiều khía cạnh. Mặc dù vậy, sự phát triển tâm lý của thiếu niên (hay học sinh THCS) thƣờng đƣợc tìm hiểu ở một số bình diện nhƣ nhận thức, quan hệ xã hội, cảm xúc, nhân cách… Do giới hạn về thời gian và những điều kiện 13 khác, đề tài này chỉ tập trung tìm hiểu sự phát triển trên một số bình diện tâm lý nhân 14 cách, quan hệ xã hội và cảm xúc, cụ thể là ở một số khía cạnh sau: hình ảnh cái tôi, quan hệ xã hội và năng lực cảm xúc. Nghiên cứu sự phát triển cái tôi, hình ảnh cái tôi, lòng tự trọng… Cái tôi là thành phần trung tâm của nhân cách, là sự thể hiện sống động của nhân cách, gồm hai thành phần cơ bản là hình ảnh cái tôi và sự đánh giá cái tôi (lòng tự trọng).
Trong tâm lý học phƣơng Tây, cái tôi là một chủ đề rất đƣợc quan tâm nghiên cứu. Mặc dù là một hiện tƣợng biến động có thể bị ảnh hƣởng bởi kinh nghiệm trong suốt vòng đời, cái tôi đƣợc xác định là một thành phần đặc biệt quan trọng của sự phát triển trong thời niên thiếu (Santo J. và đồng nghiệp, 2013) [69]. Một nhiệm vụ quan trọng của lứa tuổi thiếu niên là hình thành tính đồng nhất, biểu hiện "cái tôi" sáng tạo và độc lập, kết hợp một cách hài hoà giữa các thành tố khác nhau của nhân cách (Grace J.
Craig, Don Baucum, 2001) [38]. Các nhà phân tâm học là những ngƣời đầu tiên đề cập đến khái niệm cái tôi hay bản ngã. Erikson chú trọng và tập trung vào cái tôi (bản ngã) nhƣ là một yếu tố cốt lõi trong nhân cách con ngƣời. Freud, ông cho rằng cái tôi có tính tự do ý chí và không chịu ảnh hƣởng bất biến của xung động bản năng.
Chính sự đề cao về cái tôi tích cực năng động đó, Erikson đƣợc biết đến nhƣ là một nhà tâm lý học cái tôi (Barry D. Theo Erikson (1950), nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn thanh thiếu niên là tìm kiếm bản sắc - định hình cái tôi. Trƣớc những biến đổi nhanh chóng về sinh lí, cùng những đòi hỏi của xã hội về vấn đề học tập và việc làm, thanh thiếu niên phải xem xét lại vai trò của mình. Lúc này, các em cần thống hợp đƣợc những đồng nhất khác nhau từ thời thơ ấu vào một bản sắc đầy đủ hơn.
Nếu không thống hợp đƣợc, các em sẽ phải đối mặt với “sự lan tỏa của bản sắc”, tức là nhân cách bị xé lẻ, không xác định đƣợc bản sắc, bị lẫn lộn vai trò. Thanh thiếu niên đi tìm chính mình thông qua các nhóm bạn cùng trang lứa, câu lạc bộ, đạo giáo, các phong trào xã hội - chính trị… (Patricia H. Miller, 1989; Phan Trọng Ngọ, Nguyễn Đức Hƣởng, 2003) [18], [23]. Đại diện cho trƣờng phái nhân văn, Carl Roger là ngƣời đề xƣớng lí thuyết cái tôi (the self).
Trong lí thuyết này, hai khái niệm cái tôi và hình ảnh cái tôi (self- 15 concept) là đồng nghĩa.