CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, định nghĩa 1. Sức khỏe tâm thần Sức khỏe toàn diện là mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia nói chung và của ngành Y tế Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, trên thực tế, khi mà sức khỏe thể chất dần khẳng định vị trí quan trọng trong xã hội thì SKTT vẫn đang phải đối mặt với sự thờ ơ hoặc những nhận thức sai lệch của nhiều người (12).
Vậy sức khỏe tâm thần là gì? Việc đưa ra định nghĩa chính xác về SKTT là vô cùng quan trọng dù không dễ dàng để có được sự thống nhất do những khác biệt về giá trị và văn hóa của mỗi quốc gia. Năm 2003, WHO đã đề xuất khái niệm về SKTT như sau: “Sức khỏe tâm thần là một trạng thái sức khỏe mà mỗi cá nhân nhận thức rõ khả năng của mình, có thể đối phó với những căng thẳng bình thường trong cuộc sống, làm việc hiệu quả và thành công, có thể đóng góp cho cộng đồng (13)”. Cũng theo Từ điển thuật ngữ tâm lý học: “Sức khỏe tâm thần là một trạng thái thoải mái, dễ chịu về tinh thần, không có các biểu hiện rối loạn về tâm thần. Một trạng thái đảm bảo cho sự điều khiển hành vi, hoạt động phù hợp với môi trường (14)”.
Như vậy, về bản chất, SKTT tốt không chỉ đơn thuần là không có bệnh về tâm thần mà còn bao hàm trạng thái thoải mái, tự tin, khả năng tự chủ và nhận biết tiềm năng của bản thân cũng như có các kỹ năng cần thiết để đối phó với những thách thức trong cuộc sống. SKTT là nền tảng quan trọng góp phần tạo dựng nên sự khỏe mạnh của mỗi cá nhân ở mọi giai đoạn trong cuộc đời và là một nhân tố không thể tách rời với sức khỏe cộng đồng. Vấn đề sức khỏe tâm thần Các thuật ngữ “Vấn đề SKTT”, “Rối loạn tâm thần”, “Bệnh tâm thần” đều được dùng để chỉ các rối loạn về nhận thức, hành vi và cảm xúc gây trở ngại đến cuộc sống và công việc của con người. Nhưng, khác với bệnh tâm thần hay rối loạn tâm thần là những bệnh lí tâm thần đủ tiêu chuẩn chẩn đoán và gây ảnh hưởng rõ rệt thì “Vấn đề SKTT (Mental health problem) là những vấn đề gây trở ngại đến nhận thức, cảm xúc và chức năng xã hội, bao gồm cả rối loạn nhất thời như phản ứng 5 của cơ thể với các sang chấn tâm lý nhưng ở mức độ nhẹ và ít kéo dài hơn rối loạn tâm thần (15)”.
Việc phân biệt giữa rối loạn tâm thần và vấn đề SKTT đôi khi không rõ ràng, chủ yếu dựa vào mức độ và thời gian kéo dài của các triệu chứng. Các vấn đề SKTT có thể được điều trị hiệu quả bằng sự kết hợp của thuốc và tư vấn tâm lý, nhưng cũng có thể dễ dàng phát triển thành các rối loạn tâm thần nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Vị thành niên và lứa tuổi học sinh trung học phổ thông Tại Việt Nam, theo định nghĩa của WHO: “VTN là thuật ngữ dùng để chỉ những người có độ tuổi từ 10 – 19 tuổi (16)”. VTN được chia làm 3 nhóm: • Nhóm VTN sớm (10-13 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm các học sinh lớp 4, lớp 5 của bậc tiểu học và lớp 6, lớp 7 của bậc trung học cơ sở.
Ở giai đoạn này, VTN phụ thuộc chủ yếu vào gia đình. Đây là khoảng thời gian các em bắt đầu chuyển từ “trẻ con sang người lớn”, tập làm quen và học hỏi những kỹ năng cơ bản ở những môi trường ngoài gia đình. • Nhóm VTN giữa (14-16 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm các học sinh lớp 8, lớp 9 của bậc trung học cơ sở và lớp 10 của bậc trung học phổ thông. Giai đoạn này bắt đầu sự phát triển không cân đối về thể chất và thay đổi tâm sinh lý ở VTN.
Trong giai đoạn này VTN vẫn phụ thuộc nhiều vào gia đình. Tuy nhiên, các em lại có xu hướng tương tác và chia sẻ nhiều hơn với bạn bè. Bắt đầu nảy sinh tò mò về sự phát triển của bản thân cũng như sự khác biệt giới tính. • Nhóm VTN muộn (17-19 tuổi): nhóm tuổi này bao gồm các học sinh lớp 11 và lớp 12 của bậc trung học phổ thông.
Đây là giai đoạn kết thúc quá trình giáo dục cơ bản, đồng thời là giai đoạn mà mỗi cá nhân VTN cần lựa chọn định hướng tương lai riêng biệt cho bản thân mình. Đây cũng là giai đoạn hoàn thiện sự phát triển về thể chất và biến đổi tâm lý phù hợp với sự thay đổi môi trường từ chủ yếu tương tác trong môi trường gia đình và trường học đến tương tác nhiều hơn với các yếu tố xã hội bên ngoài. Sự phân chia các nhóm dựa trên sự phát triển thể chất, tâm lý xã hội của từng thời kỳ. Tuy nhiên, chỉ mang tính chất tương đối vì trên thực tế, sự phát triển về thể 6 chất cũng như các yếu tố tâm sinh lí ở mỗi cá nhân đều có những đặc điểm riêng biệt không đúng như phân định.
Đặc biệt, đối tượng nghiên cứu của đề tài là học sinh trường THPT chuyên, là nhóm VTN thuộc lứa tuổi 16 – 18, hiện đang học từ lớp 10 đến lớp 12 tại trường cấp 3 chuyên của tỉnh. Đây là độ tuổi chuyển giao giữa nhóm VTN giữa và nhóm VTN muộn. Ở độ tuổi này, các em bắt đầu tiếp cận nhiều hơn với các yếu tố môi trường xã hội bên ngoài đồng thời là khoảng thời gian định hướng giá trị của bản thân cũng như con đường tương lai. Cùng với đó là môi trường học tập căng thẳng và cạnh tranh cao đặc trưng của trường chuyên khiến những biến đổi tâm lí ở nhóm đối tượng này trở nên rất nhạy cảm, dễ nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý.
Phân loại sức khỏe tâm thần Hiện nay, Có 2 bảng phân loại sức khỏe tâm thần được sử dụng phổ biến gồm: DSM-5 - Bảng hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (17) được thiết kế bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ xuất bản vào tháng 5/2013 và cập nhật, bổ sung vào tháng 8/2015. Đây là bảng hướng dẫn chẩn đoán chính thức các vấn đề SKTT được sử dụng rộng rãi không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới. DSM-5 gồm 20 chương, có tính giá trị cao, đóng góp nhiều trong hỗ trợ chẩn đoán và khuyến khích nghiên cứu thông qua các tiêu chuẩn chẩn đoán. ICD 10 – Bảng phân loại bệnh tật quốc tế lần thứ 10 (18) của WHO phát hành năm 1992, được Bộ Y tế dịch sang tiếng Việt và sử dụng trong chẩn đoán bệnh tật của hệ thống y tế Việt Nam.
ICD 10 bao gồm 11 nhóm lớn, đánh mã số từ F0-F99, trong mỗi nhóm là những phân loại cụ thể hơn về SKTT. Bảng phân loại một số rối loạn tâm thần và hành vi theo ICD 10 - phiên bản 2015 giúp các cán bộ ngành tâm thần thực hiện tốt công tác khám chữa bệnh theo hướng dẫn của Bảo hiểm Y tế Việt Nam và ứng dụng trong giám định pháp y tâm thần (19). Công cụ sàng lọc, phát hiện các vấn đề sức khỏe tâm thần Có rất nhiều bộ công cụ được sử dụng trong sàng lọc, phát hiện và đánh giá các vấn đề về SKTT trong nhóm đối tượng trẻ em và VTN, trong đó nổi bật nhất phải kể đến một số công cụ như: 7 Bảng kiểm hành vi CBCL (Child Behavior Checklist)(20) là bảng đánh giá hành vi trẻ em được xây dựng bởi Thomas Achenbach năm 1965. Bảng CBCL đã được dịch và điều chỉnh tương thích với Việt Nam với tên gọi Bảng kiểm hành vi Achenbach phiên bản Việt Nam (CBCL-V).
CBCL có 3 phiên bản: 1 phiên bản dành cho trẻ, 1 phiên bản cho giáo viên và 1 cho cha mẹ. Có 2 loại bảng CBCL là bảng cho trẻ em 1,5 - 5 tuổi và bảng cho trẻ 6-18 tuổi. CBCL đánh giá 8 vấn đề là: lo âu/trầm cảm, trầm cảm/thu mình, than phiền cơ thể, vấn đề xã hội, vấn đề tư duy, vấn đề chú ý, vi phạm luật lệ, tính công kích. Thang đánh giá trầm cảm thanh thiếu niên (RADS 10-20)(21) do William M.
Reynolds xây dựng năm 1986. Là thang tự đánh giá dành cho thanh thiếu niên nhằm xác định các triệu chứng trầm cảm. RADS được sử dụng cho thanh thiếu niên trong độ tuổi từ 10 đến 20. Thang RADS được Việt hóa bởi các bác sỹ tại Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia và đưa vào sử dụng tại Việt Nam từ năm 1995.
RADS gồm 30 đề mục đánh giá mức độ hiện tại của các triệu chứng học trầm cảm ở thanh thiếu niên theo bốn thành phần cơ bản của trầm cảm: loạn khí sắc, cảm xúc tiêu cực/mất hứng thú, tự đánh giá tiêu cực và phàn nàn về cơ thể. Bảng tự thuật YSR (Youth Self Report)(22) là bảng tự đánh giá cho vị thành niên từ 11-18 tuổi. Bảng YSR do tiến sĩ Thomas Achenbach phát triển, đã được Việt hóa và được sử dụng rộng rãi trong giới tâm lí học, tâm thần học. Phần đầu của YSR ghi lại những thông tin về khả năng thích ứng của trẻ trong các mặt khác nhau: thể thao, sở thích, bạn bè, công việc nhà, học tập.
Trẻ cũng tự đánh giá các năng lực và kết quả học tập cũng như quan hệ gia đình, bạn bè. Phần thứ hai của YSR đánh giá 8 trục hội chứng chính của các hành vi và cảm xúc thường gặp ở trẻ em và VTN là: thu mình, rối loạn dạng cơ thể, lo âu/trầm cảm, các vấn đề xã hội, vấn đề về suy nghĩ/tư duy, các vấn đề về chú ý, hành vi hung bạo, hành vi sai phạm. Bảng hỏi YSR đã được sử dụng trong một số nghiên cứu tại Việt Nam, tuy nhiên cần có sự đồng ý của tổ chức sở hữu bản quyền và chi trả chi phí cho việc sử dụng. Bảng đánh giá điểm mạnh và khó khăn SDQ 25 (Strengths and Difficulties Questionnaire 25 items) do Robert Godman thuộc Viện Tâm thần London (Đại học London) xây dựng (23).
SDQ 25 được dịch ra 47 thứ tiếng và đưa vào sử dụng sàng 8 lọc vấn đề SKTT ở trẻ em tại 60 nước trên thế giới. Năm 2004, SDQ 25 được Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng (RTCCD) nghiên cứu chuẩn hóa dịch tễ học thích nghi ở Việt Nam và được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá SKTT của trẻ em và VTN. Khả năng chẩn đoán của bộ câu hỏi SDQ 25 phiên bản tiếng Việt đạt từ 0,7 - 0,79 tùy theo đối tượng và không khác nhau giữa phương thức tự điền và phỏng vấn (24).