Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu tiêu thụ dầu thực vật tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng theo xu hướng chuyển dịch từ mỡ động vật sang dầu thực vật giàu dinh dưỡng. Theo ước tính từ các báo cáo ngành, mức tiêu thụ bình quân đầu người được dự báo tăng từ 10 kg/người/năm lên 16 kg/người/năm vào năm 2020 và đạt 18,5 kg/người/năm vào năm 2025. Trong bối cảnh cả nước từng phải nhập khẩu tới 734.000 tấn dầu thô và tinh luyện mỗi năm để đáp ứng nhu cầu nội địa, việc phát triển các vùng nguyên liệu cây có dầu chất lượng cao là một đòi hỏi cấp thiết.

Cây Sở (Camellia sp) là cây lâm sản ngoài gỗ bản địa có giá trị đa dụng đặc biệt. Dầu chiết xuất từ nhân hạt Sở có tỷ lệ hàm lượng dầu đạt từ 40% đến 60%, sở hữu chất lượng dinh dưỡng cao tương đương dầu ô liu quốc tế. Huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh có diện tích đất tự nhiên là 47.013,34 ha, trong đó quỹ đất lâm nghiệp chiếm 33.969,79 ha (tương đương 89,18% tổng diện tích đất nông nghiệp) và còn hơn 7.153,59 ha đất trống chưa sử dụng. Mặc dù tiềm năng sinh thái rất lớn, sản xuất Sở tại địa phương trong thời gian dài vẫn mang tính quảng canh, manh mún, năng suất thấp và chưa hình thành chuỗi hàng hóa tập trung.

Luận văn xác định mục tiêu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích thực trạng tổ chức sản xuất, đánh giá 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển sản xuất Sở theo hướng hàng hóa tập trung tại huyện Bình Liêu giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu được triển khai khảo sát chuyên sâu tại 3 xã trọng điểm gồm Hoành Mô, Lục Hồn và Đồng Tâm. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa kinh tế - xã hội to lớn khi giá hạt Sở đã tăng từ 12.000 đồng/kg lên 17.000 - 22.000 đồng/kg và giá dầu ép đạt 120.000 - 150.000 đồng/lít, mở ra hướng sinh kế giảm nghèo bền vững cho địa bàn có 84,99% số hộ làm nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo còn 21,4%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng Lý thuyết phát triển kinh tế của Ngân hàng Thế giới và các công trình kinh tế nông nghiệp kinh điển, nhìn nhận phát triển kinh tế là quá trình biến đổi cả về lượng (quy mô diện tích, sản lượng) và về chất (năng suất, cơ cấu giống, công nghệ chế biến và giá trị gia tăng). Đồng thời, đề tài tích hợp Lý thuyết phát triển bền vững của Ủy ban Brundtland, đảm bảo sự cân bằng hài hòa giữa ba trụ cột: hiệu quả kinh tế cho hộ trồng rừng, tiến bộ xã hội nông thôn và bảo vệ hệ sinh thái chống xói mòn đất dốc.

Mô hình nghiên cứu phân tích toàn diện chuỗi sản xuất Sở từ các yếu tố đầu vào (vốn đầu tư, cây giống, lao động, đất đai), quy trình kỹ thuật gieo trồng thâm canh, thu hoạch, chế biến chiết xuất đến các kênh phân phối tiêu thụ trên thị trường. Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: sản xuất hàng hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất Sở (quá trình mở rộng diện tích, thâm canh tăng năng suất hạt và nâng cao giá trị dầu ép), chi phí trung gian (IC), tổng giá trị sản xuất (GO) và giá trị gia tăng (VA). Cây Sở được xác định là loài cây gỗ nhỏ họ Chè, sống lâu năm với chu kỳ sinh trưởng trên 100 năm, bắt đầu ra quả từ năm thứ 5 và cho sản lượng ổn định từ năm thứ 15 trở đi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp linh hoạt giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo của Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Liêu trong giai đoạn 2013-2015.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra chọn mẫu phân tầng có chủ đích với tổng quy mô 90 mẫu khảo sát. Cụ thể, mẫu bao gồm 60 hộ nông dân trực tiếp trồng Sở (chia thành 12 hộ có vườn Sở dưới 10 năm tuổi, 32 hộ có vườn Sở từ 11 đến 30 năm tuổi và 18 hộ có vườn Sở trên 30 năm tuổi) tại 3 xã đại diện là Hoành Mô, Lục Hồn và Đồng Tâm. Bên cạnh đó, tác giả phỏng vấn sâu 10 thương lái thu gom, 10 cán bộ quản lý địa phương và 10 khách hàng tiêu thụ sản phẩm dầu Sở. Cỡ mẫu này đảm bảo tính đại diện cao cho chuỗi giá trị và phản ánh chính xác chu kỳ sinh trưởng của cây trồng.

Các phương pháp phân tích chủ đạo gồm: thống kê mô tả, phân tổ thống kê, so sánh biến động số lượng tương đối và tuyệt đối, tổng hợp xếp hạng ý kiến chuyên gia và phương pháp hạch toán kinh tế nông hộ để xác định GO, IC, VA và thu nhập hỗn hợp (MI). Việc lựa chọn phương pháp hạch toán chi phí giúp lượng hóa chính xác hiệu quả sử dụng đồng vốn và ngày công lao động, tạo căn cứ định lượng vững chắc cho các đề xuất chính sách.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, huyện Bình Liêu sở hữu tiềm năng tự nhiên vượt trội với 33.969,79 ha đất lâm nghiệp và 7.153,59 ha đất chưa sử dụng, trong đó nhóm đất Feralit phát triển trên đá mácma axit chiếm khoảng 27% diện tích tự nhiên với tầng đất dày, độ chua pH từ 4 đến 5 rất phù hợp với đặc tính sinh học của cây Sở. Tuy nhiên, diện tích rừng Sở toàn huyện vẫn còn phân tán, phần lớn các diện tích chưa được quy hoạch tập trung đồng bộ.

Thứ hai, giá trị kinh tế của cây Sở tăng trưởng rõ nét qua các năm. Giá thu mua hạt Sở tươi và khô tại vườn đã tăng từ 12.000 đồng/kg lên mức 17.000 - 22.000 đồng/kg (tăng từ 41,7% đến 83,3%), trong khi dầu Sở ép nguyên chất có giá bán đạt 150.000 đồng/lít. Toàn bộ các bộ phận của cây đều có giá trị sử dụng: vỏ quả chiếm 60-61% trọng lượng chứa 9,26% tannin dùng sản xuất than hoạt tính, bã Sở chứa hoạt chất saponin làm thuốc trừ sâu sinh học và diệt tạp khuẩn ao nuôi thủy sản.

Thứ ba, năng suất vườn Sở có sự chênh lệch lớn theo vùng và độ tuổi cây. Qua so sánh, năng suất hạt tươi của giống Sở cam tại Quảng Ninh đạt khoảng 1,7 tấn/ha ở tuổi 36, thấp hơn giống Sở quýt tại Lạng Sơn (1,8 tấn/ha) và Sở chè tại Nghệ An (2,9 tấn/ha). Tại 3 xã điều tra, có tới 30% số hộ (18/60 hộ) sở hữu vườn cây trên 30 năm tuổi đã già cỗi nhưng chưa được đốn tỉa phục tráng, dẫn đến năng suất hạt giảm từ 20% đến 35% so với giai đoạn đỉnh cao.

Thứ tư, kênh tiêu thụ sản phẩm còn mang tính thụ động. Khoảng 85% sản lượng hạt Sở của người dân được bán trực tiếp tại nhà hoặc thông qua thương lái tự do xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc qua cửa khẩu Hoành Mô, khiến người sản xuất dễ bị ép giá do thiếu vắng doanh nghiệp chế biến sâu tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến năng suất và giá trị sản xuất Sở tại Bình Liêu chưa tương xứng với tiềm năng xuất phát từ 6 nhóm nhân tố, trong đó trình độ dân trí là rào cản lớn nhất. Với đặc thù dân cư gồm 53,5% người Tày và 25,2% người Dao, trình độ thâm canh của đồng bào còn hạn chế, tỷ lệ tham gia các lớp tập huấn khuyến nông chỉ đạt mức thấp. Hầu hết các hộ chưa áp dụng kỹ thuật bón phân cân đối N-P-K và kỹ thuật đốn tỉa tạo tán – biện pháp từng giúp các mô hình thâm canh Sở ở nước ngoài nâng sản lượng từ 36,7% đến 39,5% và giảm sâu bệnh tới 24,7%.

Kết quả này hoàn toàn nhất quán với các nghiên cứu kinh tế nông nghiệp tại Thái Nguyên đối với cây chè và tại Lạng Sơn đối với cây hồi, khẳng định mức độ đầu tư chi phí trung gian (IC) và ứng dụng kỹ thuật ghép cải tạo có mối tương quan thuận mạnh mẽ với giá trị gia tăng (VA). Dữ liệu hạch toán từ 60 hộ điều tra cho thấy việc chuyển hóa các chỉ tiêu chi phí và doanh thu lên hệ thống biểu đồ cơ cấu và bảng so sánh hạch toán kinh tế phản ánh trực quan sự vượt trội của các hộ có áp dụng kỹ thuật tỉa thưa duy trì độ tàn che 70% và đầu tư máy ép dầu bán cơ giới.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu cần chủ trì quy hoạch vùng trồng Sở sản xuất hàng hóa tập trung giai đoạn 2017-2020 tại 3 xã Hoành Mô, Lục Hồn, Đồng Tâm và mở rộng sang xã Vô Ngại; đặt mục tiêu trồng mới và phục tráng 500 ha rừng Sở, khai thác hiệu quả quỹ đất trống 7.153,59 ha chưa sử dụng.

Thứ hai, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kết hợp Trạm Khuyến nông huyện tổ chức đào tạo kỹ thuật thâm canh định kỳ cho 100% số hộ trồng Sở từ năm 2017; chuyển giao công nghệ ghép cải tạo thay tán vườn Sở già cỗi, áp dụng kỹ thuật xén tỉa cành tạo tán để nâng năng suất hạt thêm 30-40% và tuyển chọn các dòng Sở ưu việt có tỷ lệ dầu trong nhân đạt từ 50% đến 60%.

Thứ ba, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh và huyện Bình Liêu cần ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông lâm sinh giai đoạn 2017-2019; hỗ trợ thành lập tối thiểu 2 cơ sở chế biến ép dầu công nghệ bán tự động đạt tiêu chuẩn an toàn thực phẩm tại cụm xã Hoành Mô và thị trấn Bình Liêu với công suất 50-100 tấn dầu tinh chế/năm.

Thứ tư, Ngân hàng Chính sách Xã hội và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Bình Liêu triển khai gói vay ưu đãi lãi suất thấp hơn 2-3%/năm với thời hạn 5-7 năm, hỗ trợ 21,4% hộ nghèo và 13,9% hộ cận nghèo có đủ nguồn vốn đầu tư phân bón và cây giống trong giai đoạn kiến thiết cơ bản kéo dài 5 năm đầu của cây Sở.

Thứ năm, Phòng Kinh tế - Hạ tầng huyện đẩy mạnh xây dựng nhãn hiệu chứng nhận Dầu Sở Bình Liêu gắn với chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2017-2020; xúc tiến ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm giữa hợp tác xã và doanh nghiệp tiêu thụ lớn, bảo đảm giá sàn thu mua hạt Sở tối thiểu 20.000 đồng/kg nhằm bảo vệ lợi nhuận cho người nông dân.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nông nghiệp tại Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn và số liệu quy hoạch chi tiết để xây dựng các đề án phát triển lâm sản ngoài gỗ, tái cơ cấu ngành trồng trọt và triển khai hiệu quả chương trình OCOP tại các huyện miền núi biên giới.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp và Lâm nghiệp. Tài liệu là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu chuỗi giá trị nông hộ, kỹ thuật điều tra chọn mẫu phân tầng và phương pháp hạch toán kinh tế (GO, IC, VA, MI) trong kinh tế tài nguyên.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp, hợp tác xã và nhà đầu tư trong ngành chế biến thực phẩm dinh dưỡng và hóa mỹ phẩm. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về trữ lượng vùng nguyên liệu, chất lượng hàm lượng dầu hạt Sở (40-60%) và tiềm năng thương mại hóa các phụ phẩm từ vỏ quả và bã Sở.

Nhóm thứ tư là cán bộ khuyến nông cơ sở và các hộ gia đình trồng rừng tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Công trình đóng vai trò như cẩm nang hướng dẫn về hạch toán chi phí đầu tư 1 ha rừng Sở, kỹ thuật đốn tỉa phục tráng và giải pháp tiếp cận thị trường tiêu thụ ổn định.

Câu hỏi thường gặp

Cây Sở mang lại những giá trị kinh tế và công dụng vượt trội nào so với các cây lâm nghiệp khác? Cây Sở là loài cây đa tác dụng có tuổi thọ trên 100 năm. Dầu ép từ hạt có tỷ lệ dầu trong nhân đạt 40-50%, chứa các axit béo không no cao cấp tương đương dầu ô liu, rất tốt cho sức khỏe tim mạch. Vỏ quả chiếm 60-61% khối lượng chứa 9,26% tannin dùng sản xuất than hoạt tính, còn bã Sở chứa saponin dùng làm thuốc bảo vệ thực vật sinh học và chất khử khuẩn ao nuôi tôm cá.

Điều kiện tự nhiên tại huyện Bình Liêu có những lợi thế cạnh tranh gì cho việc phát triển cây Sở? Bình Liêu sở hữu 33.969,79 ha đất lâm nghiệp và hơn 7.153 ha đất trống chưa sử dụng, trong đó 27% diện tích là đất Feralit đỏ vàng trên đá mácma axit có độ pH chua từ 4 đến 5 rất thích hợp cho cây họ Chè sinh trưởng. Khí hậu nhiệt đới gió mùa mát mẻ với nhiệt độ trung bình 22,5 độ C và độ ẩm 83% là điều kiện lý tưởng để cây tích lũy hàm lượng dầu cao.

Nguyên nhân vì sao năng suất và hiệu quả kinh tế rừng Sở tại địa phương trước đây còn thấp? Khảo sát 60 hộ dân cho thấy có tới 30% hộ sở hữu vườn cây trên 30 năm tuổi đã thoái hóa nhưng không được đốn tỉa tạo tán hay bón phân định kỳ. Đồng thời, trình độ dân trí còn hạn chế khiến người dân canh tác theo thói quen tự nhiên, thu hái quả non làm giảm tỷ lệ dầu và phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái thu gom tại cửa khẩu Hoành Mô.

Luận văn đã áp dụng phương pháp hạch toán kinh tế nào để lượng hóa kết quả sản xuất của nông hộ? Nghiên cứu sử dụng hệ thống chỉ tiêu hạch toán kinh tế nông nghiệp gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), Chi phí trung gian (IC), Giá trị gia tăng (VA) và Thu nhập hỗn hợp (MI) tính bình quân trên 1 ha canh tác. Phương pháp này giúp phản ánh chính xác hiệu quả sử dụng vốn, đất đai và công lao động giữa 3 nhóm hộ theo độ tuổi vườn cây.

Giải pháp nào mang tính đột phá nhất để nâng cao chuỗi giá trị sản xuất Sở tại Bình Liêu đến năm 2020? Giải pháp đột phá là quy hoạch vùng sản xuất tập trung 500 ha tại các xã Hoành Mô, Lục Hồn, Đồng Tâm gắn liền với xây dựng thương hiệu OCOP Dầu Sở Bình Liêu. Kết hợp chuyển giao kỹ thuật tỉa tán tăng năng suất 36-39% với việc kêu gọi doanh nghiệp đầu tư xưởng ép dầu đạt chuẩn an toàn thực phẩm, bao tiêu hạt Sở với giá sàn trên 20.000 đồng/kg.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây có dầu, khẳng định cây Sở là cây trồng mũi nhọn đem lại giá trị kinh tế, xã hội và môi trường bền vững tại huyện Bình Liêu.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng sản xuất tại 3 xã trọng điểm với quy mô 60 hộ nông dân, chứng minh tiềm năng thương mại lớn khi giá hạt đạt 17.000 - 22.000 đồng/kg và giá dầu đạt 150.000 đồng/lít.
  • Phân tích sâu sắc 6 nhóm yếu tố ảnh hưởng, chỉ rõ trình độ dân trí và việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật là khâu đột phá quyết định năng suất và hàm lượng dầu hạt Sở (40-60%).
  • Đề xuất đồng bộ 6 nhóm giải pháp kinh tế - kỹ thuật từ quy hoạch tập trung 500 ha, cải tạo giống, đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ tín dụng đến phát triển thị trường theo chuẩn OCOP giai đoạn 2017-2020.
  • Đóng góp mới quan trọng của luận văn là đã lấp đầy khoảng trống nghiên cứu kinh tế chuỗi giá trị ngành hàng cây Sở tại tỉnh Quảng Ninh, cung cấp căn cứ thực chứng cho công tác quản lý và phát triển nông thôn.

Định hướng tiếp theo giai đoạn 2017-2020 đòi hỏi các cấp chính quyền và cơ quan khuyến nông khẩn trương triển khai quy hoạch thực địa và hỗ trợ nông hộ tiếp cận kỹ thuật thâm canh tiên tiến. Quý bạn đọc, nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy tham khảo ngay toàn văn luận văn thạc sĩ của tác giả Nình Thị Trang tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam để tiếp cận hệ thống dữ liệu chi tiết và áp dụng các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững vào thực tiễn địa phương!