Tổng quan nghiên cứu

Nhu cầu sử dụng dược liệu tại Việt Nam hiện nay đạt khoảng gần 60.000 tấn/năm phục vụ công tác khám chữa bệnh và sản xuất công nghiệp dược phẩm. Tuy nhiên, nguồn cung nội địa mới chỉ đáp ứng được khoảng 15.600 tấn/năm (tương đương 30% nhu cầu), trong khi 70% còn lại phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Nhằm chủ động nguồn nguyên liệu trong nước và bảo tồn tài nguyên sinh học, Quyết định số 1976/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030, mở ra định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng giá trị cao tại các địa phương có thế mạnh sinh thái.

Huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh sở hữu tiềm năng tự nhiên vượt trội với hơn 50.000 ha diện tích đất lâm nghiệp, chiếm phần lớn trong tổng số 65.208,16 ha diện tích tự nhiên toàn huyện. Mặc dù có điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm mưa nhiều và đất đai đồi rừng rất thích hợp cho cây thuốc phát triển, sản xuất dược liệu tại Tiên Yên trong giai đoạn trước vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: phương thức canh tác manh mún, chất lượng nguồn giống chưa kiểm soát, kỹ thuật chế biến thủ công và thị trường tiêu thụ thiếu tính ổn định.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở khoa học, đánh giá toàn diện thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản xuất 4 loại cây dược liệu chủ lực: Gừng, Ba kích, Địa liền và Dây thìa canh trên địa bàn huyện Tiên Yên. Dữ liệu nghiên cứu giai đoạn 2012–2016 cho thấy tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cây dược liệu của huyện đạt bình quân 8,8%/năm, với diện tích canh tác năm 2016 đạt 142,5 ha và sản lượng thu hoạch đạt 674,2 tấn. Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực tiễn quan trọng để xây dựng định hướng, bố trí vùng chuyên canh và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm phát triển ngành dược liệu Tiên Yên bền vững đến năm 2020, nâng cao thu nhập cho 83,8% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, kết hợp giữa tăng trưởng theo chiều rộng (mở rộng quy mô diện tích đất đai, bổ sung vốn đầu tư và lực lượng lao động) và tăng trưởng theo chiều sâu (nâng cao năng suất, chất lượng thông qua ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng tài nguyên). Phát triển cây dược liệu được xác định là quá trình tác động có tổ chức của con người nhằm gia tăng cả về lượng và chất của các sản phẩm thảo dược có nguồn gốc tự nhiên, đáp ứng các tiêu chuẩn quy định tại Khoản 6 Điều 2 Nghị định 102/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp lý thuyết chuỗi giá trị nông sản và mô hình liên kết kinh tế "4 nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nông hộ). Trong bối cảnh kinh tế thị trường, các hình thức tổ chức sản xuất như kinh tế hộ, hợp tác xã kiểu mới và doanh nghiệp nông nghiệp đóng vai trò hạt nhân trong việc khắc phục tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, giảm thiểu rủi ro thị trường và gia tăng giá trị sản phẩm từ 3 đến 5 lần so với canh tác các loại cây lương thực truyền thống như lúa hoặc ngô.

Nghiên cứu tập trung vào các khái niệm nền tảng bao gồm: phát triển sản xuất cây dược liệu, hiệu quả kinh tế nông hộ, chi phí trung gian trong sản xuất, và mô hình liên kết chuỗi giá trị tiêu thụ nông sản bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập bài bản. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ Niên giám thống kê huyện Tiên Yên giai đoạn 2012–2016, các báo cáo chuyên ngành của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm Tiên Yên và các đề án quy hoạch của Bộ Y tế.

Đối với dữ liệu sơ cấp, đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên có chủ đích để khảo sát trực tiếp 90 hộ nông dân đang trực tiếp sản xuất cây dược liệu trên địa bàn huyện. Cỡ mẫu 90 hộ được phân bổ đều tại 3 tiểu vùng sinh thái đặc trưng: tiểu vùng miền núi (xã Phong Dụ, Hà Lâu, Điền Xá), tiểu vùng trung du (xã Đông Ngũ, Hải Lạng, Yên Than) và tiểu vùng đồng bằng ven biển (xã Tiên Lãng, Đồng Rui). Việc phân tầng mẫu theo 3 tiểu vùng giúp phản ánh khách quan sự khác biệt về điều kiện thổ nhưỡng, tập quán canh tác và chi phí đầu tư cho từng loại cây trồng.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm: phương pháp thống kê mô tả (phân tích tốc độ tăng trưởng, cơ cấu diện tích, sản lượng qua các năm); phương pháp so sánh kinh tế (đánh giá doanh thu, chi phí trung gian, giá trị sản xuất và thu nhập ròng trên 1 ha gieo trồng của từng loại cây); và phương pháp phân tích nhân tố ảnh hưởng. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác hiệu quả tài chính của từng loại cây dược liệu, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho việc phân vùng quy hoạch đến năm 2020. Timeline nghiên cứu tập trung thu thập số liệu thực tế giai đoạn 2012–2016 và hoàn thiện đánh giá tổng hợp vào năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giá trị sản xuất cây dược liệu tại huyện Tiên Yên đạt mức tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2012–2016 với tốc độ tăng bình quân 8,8%/năm. Tổng diện tích gieo trồng toàn huyện năm 2016 đạt 142,5 ha, tăng đáng kể so với các năm đầu kỳ, mang lại tổng sản lượng 674,2 tấn dược liệu các loại.

Thứ hai, cơ cấu diện tích và sản lượng có sự tập trung rõ nét vào 4 loại cây trồng chủ lực gồm Gừng, Ba kích, Địa liền và Dây thìa canh. Trong đó, Gừng và Địa liền chiếm tỷ trọng lớn về sản lượng hàng năm do chu kỳ thu hoạch ngắn, trong khi Ba kích là cây dược liệu bản địa có giá trị thương phẩm cao nhất nhưng đòi hỏi chu kỳ sinh trưởng kéo dài từ 3 đến 5 năm.

Thứ ba, hiệu quả kinh tế trên 1 ha canh tác có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nhóm cây dược liệu và giữa các tiểu vùng sinh thái. Ba kích và Dây thìa canh mang lại giá trị gia tăng và thu nhập thuần cao hơn từ 3 đến 4 lần so với cây lúa và hoa màu truyền thống trên cùng một đơn vị diện tích. Tuy nhiên, mức đầu tư chi phí ban đầu cho giống, phân bón và giàn leo của Dây thìa canh và Ba kích tương đối lớn, tạo rào cản nhất định đối với các hộ nghèo.

Thứ tư, về hình thức tổ chức sản xuất, mô hình kinh tế hộ gia đình vẫn chiếm ưu thế tuyệt đối với hơn 90% tổng khối lượng sản xuất toàn huyện. Sự tham gia của các hợp tác xã chuyên ngành và doanh nghiệp chế biến còn rất hạn chế. Có đến trên 75% sản lượng dược liệu của 90 hộ điều tra được tiêu thụ dưới dạng củ tươi hoặc sơ chế thô qua các thương lái trung gian, dẫn đến tình trạng bị ép giá và giá trị gia tăng tại chỗ rất thấp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp diện tích cây dược liệu Tiên Yên mở rộng nhanh chóng là nhờ huyện sở hữu quỹ đất nông - lâm nghiệp dồi dào với 54.536,36 ha (chiếm 83,63% tổng diện tích tự nhiên) và lượng mưa lớn trung bình 2.385 mm/năm. Tuy nhiên, sự phân hóa địa hình mạnh mẽ khiến đất đai bị xói mòn và hệ thống thủy lợi nội đồng chỉ đáp ứng được khoảng 40% diện tích canh tác tập trung.

So sánh với kinh nghiệm phát triển dược liệu tại các địa phương khác như huyện Hải Hậu (Nam Định) với 457 ha đinh lăng đạt chuẩn GACP-WHO, hay huyện Yên Dũng (Bắc Giang) áp dụng chính sách hỗ trợ trực tiếp 100 nghìn đồng/sào để dồn đổi ruộng đất quy mô trên 1,5 ha, Tiên Yên vẫn chưa xây dựng được chuỗi liên kết thương mại sinh học khép kín. Người dân Tiên Yên chủ yếu canh tác dựa trên kinh nghiệm truyền khẩu, tỷ lệ nông dân được tập huấn kỹ thuật bài bản mới chỉ đạt dưới 35% ở một số xã vùng cao.

Dữ liệu phân tích hiệu quả kinh tế có thể được trình bày một cách trực quan thông qua biểu đồ hình cột so sánh cơ cấu chi phí trung gian và giá trị sản xuất trên 1 ha giữa 3 tiểu vùng sinh thái, kết hợp bảng ma trận phân cấp hiệu quả kinh tế của 4 cây dược liệu. Cách trình bày này giúp nhận diện rõ rệt: tiểu vùng miền núi thích hợp nhất cho Ba kích; tiểu vùng trung du có lợi thế vượt trội với Địa liền và Gừng; trong khi tiểu vùng đồng bằng ven biển phù hợp để phát triển Dây thìa canh chuyên canh nhờ chủ động nguồn nước tưới.

Ý nghĩa thực tiễn của phát hiện này khẳng định việc chuyển đổi đất trồng kém hiệu quả sang cây dược liệu là hướng đi đúng đắn, góp phần tạo việc làm ổn định cho 60% lực lượng lao động nông nghiệp và khai thác bền vững tài nguyên rừng của địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ đất đai và tín dụng: Ủy ban nhân dân huyện Tiên Yên cần ban hành đề án hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay ưu đãi trong 2 năm đầu cho các hộ gia đình và trang trại phát triển vùng trồng dược liệu tập trung có quy mô từ 0,5 ha trở lên; đồng thời thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, tạo quỹ đất sạch tối thiểu 200 ha phục vụ sản xuất hàng hóa lớn, triển khai đồng bộ từ năm 2018 đến năm 2020.

Thứ hai, quy hoạch chi tiết vùng sản xuất dược liệu chuyên canh: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã triển khai cắm mốc quy hoạch 3 tiểu vùng sinh thái trọng điểm, phấn đấu mở rộng tổng diện tích gieo trồng dược liệu toàn huyện đạt trên 250 ha vào năm 2020. Trong đó, tập trung phát triển 80 ha Ba kích tại các xã vùng cao (Phong Dụ, Hà Lâu), 100 ha Gừng và Địa liền tại vùng trung du (Hải Lạng, Đông Ngũ), và 70 ha Dây thìa canh tại vùng đồng bằng ven biển (Tiên Lãng).

Thứ ba, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và chuẩn hóa quy trình sản xuất: Trạm Khuyến nông huyện chủ trì tổ chức từ 15 đến 20 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật mỗi năm, hướng dẫn 100% hộ dân áp dụng quy trình canh tác và thu hái theo tiêu chuẩn Thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc (GACP-WHO). Đầu tư xây dựng 2 cơ sở sơ chế, sấy lạnh và đóng gói bảo quản đạt chuẩn tại huyện nhằm kéo giảm tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch xuống dưới 8% trước năm 2020.

Thứ tư, kiến tạo chuỗi liên kết "4 nhà" và phát triển thị trường tiêu thụ: Ủy ban nhân dân huyện đóng vai trò cầu nối thu hút các doanh nghiệp dược phẩm ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với các hợp tác xã nông nghiệp. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ sản lượng dược liệu tiêu thụ qua hợp đồng bao tiêu từ mức 25% hiện tại lên trên 70% vào năm 2020, từng bước xây dựng nhãn hiệu chứng nhận tập thể cho sản phẩm Ba kích và Dây thìa canh Tiên Yên trên thị trường toàn quốc.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ quy hoạch nông nghiệp: Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng chi tiết về 65.208,16 ha đất đai, cơ cấu lao động và tiềm năng phát triển dược liệu, hỗ trợ đắc lực cho việc xây dựng nghị quyết, quy hoạch phát triển nông nghiệp nông thôn và đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp cấp huyện, cấp tỉnh.

Nhóm thứ hai, các Hợp tác xã nông nghiệp và Doanh nghiệp sản xuất, chế biến dược phẩm: Tài liệu là cẩm nang hữu ích về định mức chi phí đầu tư, phân tích doanh thu trên 1 ha và mô hình liên kết chuỗi giá trị cho 4 loại cây (Gừng, Ba kích, Địa liền, Dây thìa canh), giúp doanh nghiệp lựa chọn địa bàn đầu tư vùng nguyên liệu đạt chuẩn chất lượng.

Nhóm thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo có giá trị cao về mặt phương pháp luận, cách tiếp cận chọn mẫu phân tầng 90 hộ tại 3 tiểu vùng sinh thái và khung chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội trong nông nghiệp.

Nhóm thứ tư, các chủ trang trại và hộ nông dân trực tiếp canh tác: Cung cấp bức tranh toàn cảnh về hiệu quả tài chính, nhu cầu vốn đầu tư, mùa vụ thu hoạch và các yêu cầu kỹ thuật thực tế, giúp bà con đưa ra quyết định chuyển đổi cơ cấu cây trồng chính xác nhằm tối đa hóa lợi nhuận gia đình.

Câu hỏi thường gặp

Huyện Tiên Yên sở hữu những lợi thế tự nhiên nào nổi bật để phát triển cây dược liệu?
Tiên Yên có diện tích đất lâm nghiệp lớn với hơn 50.000 ha, chiếm trên 76% diện tích tự nhiên, cùng khí hậu nhiệt đới ẩm có lượng mưa trung bình 2.385 mm/năm. Địa hình phân hóa 3 tiểu vùng sinh thái tạo điều kiện lý tưởng cho các loài cây thuốc quý bản địa như Ba kích, Gừng, Địa liền sinh trưởng với hàm lượng hoạt chất cao.

Tốc độ tăng trưởng sản xuất cây dược liệu của huyện Tiên Yên đạt mức nào trong giai đoạn nghiên cứu?
Trong giai đoạn 2012–2016, giá trị sản xuất cây dược liệu của huyện Tiên Yên duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 8,8%/năm. Đến năm 2016, tổng diện tích gieo trồng toàn huyện đạt 142,5 ha với tổng sản lượng thu hoạch đạt 674,2 tấn thảo dược thương phẩm cung ứng ra thị trường.

Bốn loại cây dược liệu chủ lực được luận văn tập trung nghiên cứu là những loại cây nào?
Đề tài tập trung phân tích chuyên sâu 4 loại cây gồm Gừng, Ba kích, Địa liền và Dây thìa canh. Đây là những giống cây có khả năng thích nghi cao với điều kiện thổ nhưỡng địa phương, cho năng suất ổn định và mang lại giá trị kinh tế cao hơn từ 3 đến 5 lần so với cây lúa, cây ngô.

Những khó khăn lớn nhất mà người trồng dược liệu tại Tiên Yên đang phải đối mặt là gì?
Khảo sát 90 hộ sản xuất cho thấy rào cản lớn nhất là quy mô canh tác còn manh mún, hệ thống thủy lợi chỉ đáp ứng khoảng 40% diện tích, kỹ thuật sơ chế chủ yếu là thủ công truyền thống và tỷ lệ liên kết tiêu thụ qua hợp đồng chính thức còn thấp, khiến nông dân dễ bị thương lái ép giá.

Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao giá trị gia tăng cho cây dược liệu Tiên Yên đến năm 2020?
Giải pháp mang tính đột phá là xây dựng mô hình liên kết "4 nhà" gắn với việc thành lập các Hợp tác xã chuyên ngành làm đầu mối. Mô hình này bảo đảm cung cấp giống sạch bệnh, chuẩn hóa quy trình canh tác theo tiêu chuẩn GACP-WHO và cam kết bao tiêu trên 70% sản lượng đầu ra cho nông dân.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất cây dược liệu hàng hóa, gắn liền với tái cơ cấu ngành nông nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học theo định hướng của Quyết định 1976/QĐ-TTg.
  • Đánh giá chính xác thực trạng sản xuất dược liệu Tiên Yên giai đoạn 2012–2016 với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt bình quân 8,8%/năm, đạt quy mô 142,5 ha diện tích và 674,2 tấn sản lượng vào năm 2016.
  • Phân tích định lượng hiệu quả kinh tế trên 1 ha của 4 cây trồng chủ lực (Gừng, Ba kích, Địa liền, Dây thìa canh) thông qua số liệu khảo sát thực tế từ 90 hộ nông dân tại 3 tiểu vùng sinh thái đặc trưng.
  • Nhận diện rõ các nút thắt nội tại về hạ tầng thủy lợi, quy mô đất đai phân tán, tỷ lệ lao động qua đào tạo kỹ thuật còn thấp và sự thiếu hụt chuỗi liên kết bao tiêu nông sản bền vững.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi về cơ chế tín dụng, quy hoạch không gian 250 ha, chuyển giao kỹ thuật GACP-WHO và xúc tiến thương mại đến năm 2020.

Công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Mạnh Thắng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các cấp chính quyền, doanh nghiệp dược phẩm và các nhà nghiên cứu trong việc hoạch định chính sách và triển khai các dự án phát triển nông nghiệp hàng hóa giá trị cao. Quý độc giả quan tâm đến việc ứng dụng mô hình kinh tế nông hộ và chuỗi giá trị cây dược liệu hãy khai thác toàn văn luận văn để hiện thực hóa các giải pháp vào thực tiễn địa phương.