phần Mở đầu, Kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Khóa luận có nội dung chính gồm: 2 chơng, 5 tiết. CHGJONG 1 LY LUAN VE NGUON GOC CHO SU RA DOI, TON TAI VA PHAT TRIEN CUA TON GIAO THEO QUAN DIEM CHU NGHIA MAC - LENIN VA QUA TRINH DU NHAP VA PHAT TRIEN PHẬT GIÁO Ở VIET NAM 1.1 Lý luận về nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo theo quan điểm chủ nghĩa Mác - lênin Khi tìm hiểu sự phát triển của Phật giáo ở huyện Văn Lâm, tỉnh Hng Yên hiện nay, tôi cho rằng cần phải các lập trở lại những vấn đề cơ sở lý luận củ CN Mác về nguồn gốc sự ra đời, ton tai, phát triển của ton giáo đó bao hàm cả nguyên nhân và điều kiện. Theo các nhà kinh điển CN Mác, nguyên nhân của sự phát triển của Phật giáo nằm chính trong xã hội mà chính nó đang tồn tại.
Đó chính là các hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa, đao đức, đời sống tôn giáo của xã hội hiện tại. Tất cả đều trực tiếp hoặc gián tiếp quy định, tác động đến sự biến đối Phật giáo. Với việc đi sâu tìm hiểu chính là cần nhng cha đầy đủ đề lý giải sự phát triển Phật giáo ở Văn Lâm. Để có căn cứ lý giải phát triển đợc Phật giáo còn có những điều kiện nội tại tự thân Phật giáo (Chính bản thân Phật giáo cũng tích cực, chủ động, vận động, thích nghi, nỗ lực tự điều tiết.
Các phơng diện về ý thức Phật giáo, sự thờ cúng nghỉ lễ Phật giáo và nhất là hoàn bị thiết chế tổ chức mới vận dụng “thời cơ” để phát triển. Một điểm cần lu ý rằng, xã hội luôn vận động và biến đổi, luôn nảy sinh những yên cầu mới, chính vì vậy cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của Phật giáo hiện nay, đã không còn giống căn nguyên những nguồn gốc mà Mác, Ăngghen đã chỉ ra khi nghiên cứu é tôn giáo ở Tây Âu thế kỷ XIX, đã đợc bổ sung những yếu tổ thời đại mới còng biến chuyền thực tế hiện tại. Nhng trở lại quan điểm Mác, Ăngghen, Lênin về nguồn gốc tôn giáo coi đó là cơ sở lý luận để vận dụng nghiên cứu vấn đề vẫn là việc làm cần thiết. Ở chơng 2 tiếp theo khóa luận sẽ chỉ ra những cần vận dụng mới trong xem xét sự tồn tại, phát triển của một Phật giáo, cụ thể là Phật giáo, ở một không gian, thời gian cụ thể là huyện Văn Lâm hiện nay, mà những điều kiện 9 mới ấy là cha có, cha nảy sinh trong thế kỷ XIX đặt ở bối cảnh chủ nghĩa Mác ra đời, nên ông cũng cha đề cập đến.
Chính vì vậy để phục vụ cho quá trình nghiên cứu đạt đến mục đích, nhiệm vụ đề ra tôi trớc tiên cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan. Một số khái niệm cơ bản Khái niệm tôn giáo, nguồn gốc, két cau chức năng của tôn giáo: Tôn giáo ra đời từ rất sớm, tuy nhiên khái niệm “tôn giáo” hiện nay, khó có duy nhất một định nghĩa nào có thể hàm chứa đợc những nội dung đầy đủ của "cái" đợc gọi là “tôn giáo” từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Cũng nh khái niệm Văn hóa, định nghĩa về tôn giáo cũng có nhiều nội hàm đã đợc các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nêu ra rất phong phú, phụ thuộc vào góc độ tiếp cận. Dựa trên việc xác lập các yếu tô cầu thành nên tôn giáo gồm: Ý thức tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo và thiết chế tô chức tôn giáo.
Trong đó phần ý thức tôn giáo có vị trí quan trọng hơn cả. Trong ý thức tôn giáo cho hai trình độ là tâm lý tôn giáo và hệ t tởng của tôn giáo. Hạt nhân của hệ t tởng tôn giáo là Thần học tôn giáo. Thần học tôn giáo có bộ phận, cốt lõi là niềm tin tôn giáo.
Đó là niềm tin của con ngời đặt vào Thần Thánh cơ sở quan niệm chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đồng thuận với quan niệm của C. Mác về tôn giáo, mà trong tác phâm " Chống Duyhring" Ăngghen đã da ra một định nghĩa có tính chất kinh điển từ góc độ triết học về tôn giáo rằng: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh h ảo vào đầu óc con ngời — của những thế lực bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lợng siêu trần thế” [54, tr. Trong định nghĩa trên Ăngghen đã bao quát đợc cả bản chất của tôn giáo hạt nhân đó chính là "niềm tin tôn giáo". Đồng thời ông đã chỉ rõ con đờng hình thành hình thái ý thức đặc biệt "Niềm tin tôn giáo".
Qua định nghĩa này đã khẳng định mối quan hệ cơ bản giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò độc lập của ý thức xã hội cũng đợc thể hiện rõ ở định nghĩa này. "Niềm tin tôn giáo" ra đời phản ánh một cách "h ảo" toàn bộ 10 đời sống hiện thực, trong đó có cả con ngời hiện thực trong tổng hòa các quan hệ với tự nhiên, xã hội và chính mình cũng bị "lộn ngợc". Một trong những tiền dé lý luận của quan niệm Mác xít về tôn giáo phải kể đến luận điểm mang tính duy vật về tôn giáo của Phoi bách đợc các ông kế thừa: Không phải chúa trời sáng tạo ra con ngời, mà chính con ngời sáng tạo ra Chúa trời theo "hình ảnh" của mình. Trong định nghĩa trên, ta thấy rằng Ăngghen đã tiếp thu khẳng định luận điểm này: Bằng toàn bộ sự phản ánh "h ảo" các mối quan hệ hiện thực trong đời sống xã hội mà con ngời đã sáng tạo ra tôn giáo.
Tất nhiên con ngời ở đây là "Con ngời hiện thực" theo quan điểm của C.Mác, chứ không phải con ngời trừu tong chung chung cua Phoiobach. Chinh vì vậy, con ngời là chủ thể "sáng tạo" ra tôn giáo, thế giới hiện thực đối tợng của sự phản ánh. Con ngời "sáng tạo" ra tôn giáo là sự " Thiêng” hóa sức mạnh bên ngoài thống trị, chỉ phối cuộc sống hàng ngày của con ngời. Phơng thức nhận thức để sáng tạo ra tôn giáo là thiêng hóa, phơng thức h ảo.
Kết quả của sự sáng tạo đó là tạo ra cái "siêu nhiên”, "thần thánh" trong đầu óc con ngời, thuộc lĩnh vực ý thức, niềm tin vào "tính siêu nhiên", "niềm tin thần thánh", "niềm tin tôn giáo". Qua định nghĩa này của Ăngghen cũng chỉ ra đợc bản chất, đặc trng của niềm tin tôn giáo, đó là niềm tin vào "lực lợng siêu nhiên" hay "thế giới quan hoang dong", "h ảo" của con ngời. Sự ra đời niềm tin tôn giáo là một tất yếu, kết quả nhận thức của lịch sử tiến hóa của con ngời: Khi con ngời không đủ sức chống lại thế giới tự nhiên bên ngoài, họ tởng tợng đó là Thánh Thần, họ cần thiết lập sự thân thiện với thế lực siêu nhiên đó nhằm cầu sự chở che, "bò đắp h ảo" của tôn giáo. Điều này cũng khẳng định bản chất tôn giáo thể hiện rõ nhất thông qua chức năng "đền bù h ảo" của nó.
Về luận điểm này, C.Mác cũng khẳng định: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tìm của thế giới không có trái tìm, cũng giống nh nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [53,tr. 11 Đây là định nghĩa từ góc độ triết học về tôn giáo, cơ sở lý luận giúp lý giải các điều kiện, tiền dé cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo. Nh vậy, tôn giáo hạt nhân là ý thức tôn giáo, là một hình thức "phản ánh đặc biệt" của con ngời trớc thế giới hiện thực.
Nhng không phải chỉ sự phản ánh h ảo đơn thuần, mà nó có khả năng tác động ngợc lại trở lại với các yếu tố tồn tại xã hội nhất là bởi các tôn giáo đều có yếu tố thiết chế tổ chức. Vì vậy để nghiên cứu vai trò tôn giáo hiệu quả, chúng ta cần phải xem xét khía cạnh khác xem tôn giáo vừa nh một tiểu kiến trúc thợng tầng, vừa xem tôn giáo có kết cấu xã hội, thực thé xã hội đợc cấu thành bao gồm ba yếu tố cơ bản: ý thức tôn giáo, sự thờ cúng tôn giáo và tổ chức tôn giáo. Trong đó ý thức tôn giáo là yếu tố cốt lõi quan trọng nhất. Nhng sự lan tỏa, tác động, vai trò ảnh hởng của tôn giáo lại đợc thực thi, quy định bằng yếu tố tổ chức tôn giáo và các thiết chế của tôn giáo.
Thực thi các sinh hoạt tôn giáo và các lập các quan hệ tôn giáo trong chỉnh thể hình thái kinh tế xã hội. Ở Việt Nam kế thừa quan điểm Mác xít, Hồ Chí Minh còn phát triển sáng tạo và cho rằng tôn giáo là văn hóa, là một thành tố của văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng nh mục đích của cuộc sống, loài ngời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phơng thức sử dụng và phát minh đó tức là văn hóa” [57, tr. Tôn giáo là thành tố văn hóa đến lợt nó cũng bị quy định bởi nền văn hóa và có vai trò tác động trở lại chỉnh thể văn hóa. Sự xem xét bớc phát triển Phật giáo ở huyện Văn Lâm cũng đợc chỉ dẫn bởi quan điểm Hồ Chí Minh.
Dựa trên những cơ sở lý luận quan điểm cơ bản của học thuyết Mác — Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nớc ta quan niệm xác đáng về nguồn gốc, bản chất của tôn giáo: Tôn giáo phát sinh và tồn tại do sự bất lực của con ngời trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai và áp bức xã hội. Khi cuộc sống còn cha tốt đẹp lý tổng, trình độ mọi mặt của xã hội, văn hóa dân 12 trí hạn chế và cha có thế giới quan khoa học, thì con ngời vẫn còn tin vào "sức mạnh huyền bí" nào đó của tôn giáo. Tuy nhiên, tôn giáo còn là thành tố văn hóa, còn tồn tại lâu dài trong sự nghiệp cách mạng. Đạo đức tôn giáo còn có nhiều điểm đồng thuận với sự nghiệp đổi mới.
Công tác tôn giáo còn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và căn bản nó là công tác dân vận.