Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Một số điều kiện phát triển Phật giáo tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên hiện nay" do sinh viên Dương Xuân Khải thực hiện thuộc chuyên ngành Lịch sử Triết học và Tôn giáo Phương Đông, Khoa Triết học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (khóa học QH-2015-X, năm 2019), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới.

Khóa luận xuất phát từ bối cảnh Phật giáo là tôn giáo có bề dày lịch sử hơn 2.000 năm đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, với số lượng Tăng ni, Phật tử và những người chịu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo chiếm khoảng 70% dân số cả nước. Trước tác động của công cuộc đổi mới toàn diện, sự phát triển kinh tế thị trường và cuộc Cách mạng khoa học công nghệ 4.0, đời sống xã hội diễn biến nhanh chóng, đặt ra yêu cầu phải xem xét sự biến đổi và thích ứng nội tại của Phật giáo. Tác giả lựa chọn địa bàn huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên – một địa bàn thuần nông nằm tiếp giáp thủ đô Hà Nội (cách trung tâm 19 km) và tiếp giáp trung tâm Phật giáo cổ Luy Lâu (Bắc Ninh) – làm điển hình nghiên cứu cấp vi mô để khảo sát sự biến chuyển của Phật giáo trong bối cảnh đương đại.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, khóa luận tập trung luận giải các điều kiện, tiền đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và nội tại cho sự phát triển của Phật giáo ở huyện Văn Lâm hiện nay.
  2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
    • Một là: Làm rõ các khái niệm liên quan, phân tích cơ sở tồn tại, phát triển của tôn giáo theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và khái quát tiến trình lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo huyện Văn Lâm.
    • Hai là: Tìm hiểu, luận giải các điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa và tôn giáo tác động đến sự phát triển của Phật giáo tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
    • Ba là: Khái quát một số biểu hiện phát triển của Phật giáo huyện Văn Lâm hiện nay qua ba phương diện: ý thức tôn giáo, nghi lễ thờ cúng và thiết chế tổ chức.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bước phát triển của Phật giáo ở huyện Văn Lâm từ sau mốc chia tách huyện năm 1999 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2019).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát sự phát triển trên địa bàn hành chính huyện Văn Lâm (gồm 10 xã và 1 thị trấn) tập trung vào ba phương diện: ý thức tôn giáo, nghi lễ thờ cúng và thiết chế tổ chức của Giáo hội cấp cơ sở; đồng thời tác giả giới hạn chưa đi sâu phân tích toàn diện các bất cập nảy sinh do yếu tố khách quan do điều kiện thời gian nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu lý luận triết học kết hợp khảo cứu thực tiễn tôn giáo học tại địa phương.

Khung lý thuyết và cơ sở khái niệm được xây dựng dựa trên:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là quan niệm về nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý của tôn giáo; định nghĩa tôn giáo của F. Engels trong tác phẩm Chống Đuy-rinh và luận điểm của C. Mác trong Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen - Lời nói đầu.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo (tôn giáo là một thành tố của văn hóa dân tộc).
  • Hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách và văn bản quy phạm pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo:
    • Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới.
    • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) của Đảng.
    • Chỉ thị số 37-NQ/TW ngày 27/7/1998 (và chỉ thị ngày 27/7/1999) của Bộ Chính trị về công tác tôn giáo.
    • Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 của Chính phủ về các hoạt động tôn giáo.
    • Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX.
    • Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 và Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định chi tiết thi hành.
    • Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018) và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30/12/2017 hướng dẫn thi hành.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được áp dụng:

  • Phương pháp luận triết học: kết hợp phương pháp lôgíc và lịch sử, phân tích và tổng hợp.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: phương pháp nghiên cứu vùng, phương pháp thống kê xã hội học, so sánh, đối chiếu và khảo sát thực địa tại các cơ sở tự viện trên địa bàn huyện.

Nguồn dữ liệu sử dụng:

  • Dữ liệu thứ cấp: Văn kiện Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII (nhiệm kỳ 2016 - 2020); các công trình nghiên cứu của Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo sử luận), Viện Triết học (Lịch sử Phật giáo Việt Nam), Nguyễn Tài Thư (Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay), Nguyễn Đăng Duy (Phật giáo và văn hóa Việt Nam), Vũ Minh Tuyên (Cơ duyên tồn tại và phát triển của Phật giáo ở Việt Nam hiện nay), Nguyễn Đại Đồng (Phật giáo Hưng Yên xưa và nay).
  • Dữ liệu sơ cấp và báo cáo hành chính địa phương: Báo cáo kinh tế - xã hội của UBND huyện Văn Lâm năm 2018; Báo cáo của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Văn Lâm năm 2018; Báo cáo của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Văn Lâm; Thống kê của Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Văn Lâm (giai đoạn 2016 - 2020).

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận có bố cục gồm phần Mở đầu, 2 chương nội dung (chia làm 5 tiết), Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1: Lý luận về nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của tôn giáo theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin và quá trình du nhập và phát triển Phật giáo ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng và tiến trình lịch sử của Phật giáo Việt Nam qua các giai đoạn:

  • Cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo: Khẳng định tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội phản ánh hư ảo hiện thực khách quan. Nguồn gốc tôn giáo gồm ba yếu tố gắn kết:
    • Nguồn gốc xã hội: Sự bất lực của con người trước các lực lượng tự nhiên do trình độ lực lượng sản xuất thấp kém thời nguyên thủy và sự bất lực trước các lực lượng xã hội tự phát, ách áp bức bóc lột giai cấp trong xã hội có đối kháng.
    • Nguồn gốc nhận thức: Tính mâu thuẫn phức tạp của quá trình nhận thức; sự hữu hạn của tri thức con người trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể so với thế giới vô tận, dẫn đến sự tuyệt đối hóa mặt chủ quan, biến cái khách quan thành hình ảnh siêu nhiên.
    • Nguồn gốc tâm lý: Sự sợ hãi trước thiên tai, dịch bệnh, bất trắc xã hội; đồng thời bắt nguồn từ các trạng thái tâm lý tích cực như lòng biết ơn, sự tôn kính đối với người có công với cộng đồng.
  • Tiến trình du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam:
    • Từ thế kỷ I đến trước thế kỷ X: Phật giáo du nhập hòa bình trực tiếp từ Ấn Độ theo đường biển và đường bộ qua lưu vực sông Hồng; sau đó tiếp nhận thêm các luồng ảnh hưởng từ Trung Hoa với sự hình thành của hai dòng thiền lớn: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi (năm 580 tại chùa Pháp Vân, truyền qua 19 đời với 29 vị đại sư) và Thiền phái Vô Ngôn Thông (năm 820 tại chùa Kiến Sơ, truyền qua 15 đời với 40 vị đại sư).
    • Từ thế kỷ X đến năm 1981: Thời kỳ hưng thịnh dưới triều Lý - Trần (xuất hiện Thiền phái Thảo Đường và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập); giai đoạn suy vi từ thời Lê Sơ đến thời Nguyễn khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn; phong trào Chấn hưng Phật giáo thập niên 30 của thế kỷ XX; sự ra đời của Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam (1958) ở miền Bắc và mốc lịch sử tháng 11/1981 hợp nhất thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) với phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
    • Từ năm 1981 đến nay: GHPGVN kiện toàn bộ máy 3 cấp hành chính; thống kê toàn quốc có trên 10 triệu tín đồ quy y Tam bảo, 46.574 Tăng Ni, 4 Học viện Phật giáo, hàng trăm cơ sở đào tạo các cấp và triển khai nhiều hoạt động từ thiện xã hội với kinh phí hàng chục tỷ đồng mỗi nhiệm kỳ.

Chương 2: Một số biểu hiện cho sự phát triển của Phật giáo huyện Văn Lâm hiện nay (từ sau năm 1999)

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng và các điều kiện tác động đến sự phát triển của Phật giáo tại địa bàn huyện Văn Lâm:

  • Đặc điểm địa bàn và diện mạo tôn giáo huyện Văn Lâm: Huyện được tái lập theo Nghị định số 60-NĐ/CP ngày 24/7/1999 của Chính phủ, có diện tích tự nhiên 7.443,25 ha (năm 2018), gồm 10 xã và 1 thị trấn với 119.229 nhân khẩu. Trên địa bàn có 3 tôn giáo cùng tồn tại:
    • Công giáo: Quy mô nhỏ, gồm Giáo xứ Đình Tổ (khoảng hơn 300 giáo dân, có Dòng nữ Đa Minh Đình Tổ với 12 nữ tu) và Họ giáo Hướng Đạo (gần 100 giáo dân).
    • Tin Lành: Mới xuất hiện từ năm 2018 với điểm nhóm Liên hữu Cơ Đốc tại thôn Ngọc Quỳnh (khoảng 12 tín đồ).
    • Phật giáo: Tôn giáo chiếm ưu thế tuyệt đối với hệ thống 58 ngôi chùa, trong đó có 6 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia (chùa Nôm, chùa Thái Lạc/Pháp Vân, chùa Hòa Lạc, chùa Hương Lãng, chùa Vĩnh Thái, chùa Ông). Chùa Nôm tiêu biểu với hơn 100 pho tượng cổ bằng đất có niên đại thế kỷ XVII - XVIII và tòa tượng đồng "Cửu Long Phật đản".
  • Các điều kiện khách quan thúc đẩy Phật giáo phát triển:
    • Đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước: Việc ban hành các nghị quyết và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo tạo môi trường pháp lý minh bạch. Ban Trị sự Phật giáo huyện Văn Lâm được thành lập, tham gia vào Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện, tạo cầu nối chỉ đạo xuyên suốt từ Trung ương Giáo hội đến các cơ sở tự viện xã, thôn.
    • Tác động hai mặt của kinh tế thị trường:
      • Mặt tích cực: Tăng trưởng kinh tế địa phương (năm 2018: công nghiệp - xây dựng chiếm 44%, nông nghiệp chiếm 42,5%, dịch vụ chiếm 13,5%) giúp nâng cao đời sống nhân dân, tạo nguồn lực tài chính xã hội hóa từ các nhà hảo tâm và phật tử để trùng tu, tôn tạo chùa chiền khang trang.
      • Mặt tiêu cực: Sự phân hóa giàu nghèo, áp lực thất nghiệp do chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp và nỗi bất an tâm lý trước rủi ro kinh tế khiến người dân có xu hướng tìm đến Phật giáo như một điểm tựa tinh thần, tìm kiếm sự an ủi và bù đắp tâm lý qua luật nhân quả.
  • Điều kiện nội tại của Phật giáo địa phương: Nỗ lực của đội ngũ Tăng Ni trụ trì trong công tác hoằng pháp, tổ chức các đạo tràng, tổ tụng kinh định kỳ vào ngày mùng Một, ngày Rằm tại 100% các chùa; ứng dụng phương tiện truyền thông hiện đại (băng đĩa, internet, ấn phẩm kinh sách) phục vụ nhu cầu sinh hoạt tâm linh của tín đồ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố bức tranh toàn diện về tổ chức và hiện trạng cơ sở vật chất của Phật giáo huyện Văn Lâm tính đến năm 2019:

  • Số lượng Tăng Ni toàn huyện: 38 vị (gồm 18 Đại đức, 2 Ni sư, 20 Sư cô, 2 tăng sinh và 2 ni sinh).
  • Tình trạng trụ trì tại 58 ngôi chùa: 36 chùa có Tăng Ni trụ trì chính thức hoặc kiêm nhiệm/chưa chính thức; 22 chùa chưa có sư trụ trì, hiện do Ban Hội tự lâm thời tại địa phương quản lý.

Bảng tổng hợp hiện trạng các tôn giáo tại huyện Văn Lâm (theo số liệu khóa luận):

Tôn giáo Cơ sở thờ tự Số lượng chức sắc, tu sĩ Số lượng tín đồ / Quy mô
Phật giáo 58 ngôi chùa (6 di tích quốc gia) 38 Tăng Ni (36 vị phụ trách chùa) Chiếm đa số dân cư trong huyện (100% chùa có đạo tràng/tổ tụng kinh)
Công giáo 01 Nhà thờ xứ Đình Tổ (300 m²) 12 nữ tu (Dòng nữ Đa Minh Đình Tổ) Giáo xứ Đình Tổ (~300 giáo dân), Họ giáo Hướng Đạo (~100 giáo dân)
Tin Lành Sinh hoạt tại nhà riêng (thôn Ngọc Quỳnh) Không có chức sắc thường trú Điểm nhóm Liên hữu Cơ Đốc (~12 tín đồ)

Khóa luận đề xuất các kiến nghị và giải pháp quản lý:

  1. Chính quyền các cấp cần tiếp tục thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tạo hành lang pháp lý để Phật giáo hoạt động theo đúng phương châm "Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội".
  2. Ban Trị sự GHPGVN huyện Văn Lâm cần phối hợp với chính quyền kiện toàn công tác bổ nhiệm trụ trì tại 22 ngôi chùa còn trống, nâng cao trình độ Phật học và thế giới quan cho đội ngũ Tăng Ni trẻ.
  3. Tăng cường công tác hướng dẫn tín đồ thực hành nghi lễ văn minh, loại bỏ các biểu hiện mê tín dị đoan, thương mại hóa sinh hoạt tâm linh tại các di tích lịch sử.

Đóng góp của nghiên cứu: Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên vận dụng khung lý luận triết học Mác - Lênin để phân tích có hệ thống các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa quy định sự vận động của Phật giáo tại địa bàn cấp huyện thuần nông đang đô thị hóa như Văn Lâm (tỉnh Hưng Yên).


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả thẳng thắn thừa nhận do giới hạn về mặt thời gian và tư liệu, khóa luận chưa thể đi sâu phân tích toàn diện những mặt trái, tiêu cực và bất cập trong sự tác động của cơ chế thị trường đến sự suy thoái đạo đức của một bộ phận tín đồ hoặc các sai phạm trong xây dựng cơ sở thờ tự tại địa phương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát định lượng xã hội học về mức độ biến đổi ý thức tôn giáo trong các tầng lớp cư dân (đặc biệt là công nhân tại các khu công nghiệp mới trên địa bàn huyện); đánh giá chi tiết quan hệ phối hợp giữa Ban Trị sự Phật giáo cấp huyện với các tôn giáo bạn và chính quyền cơ sở.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học, Lịch sử tôn giáo và Văn hóa học tham khảo về phương pháp luận vận dụng quan điểm Mác - Lênin trong nghiên cứu thực địa tôn giáo cấp huyện.
  • Cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về tôn giáo, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Ban Dân vận tại tỉnh Hưng Yên và huyện Văn Lâm trong việc nắm bắt thực trạng tự viện, tăng ni phục vụ hoạch định chính sách tôn giáo tại cơ sở.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử - văn hóa địa phương quan tâm đến hệ thống di tích Phật giáo cổ tại vùng phụ cận Luy Lâu như chùa Nôm, chùa Thái Lạc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận tổng số cơ sở thờ tự và đội ngũ Tăng Ni Phật giáo tại huyện Văn Lâm như thế nào? Theo số liệu thống kê năm 2018 - 2019 trong khóa luận, toàn huyện Văn Lâm có 58 ngôi chùa (trong đó có 6 chùa được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia). Toàn huyện có 38 Tăng Ni (gồm 18 Đại đức, 2 Ni sư, 20 Sư cô, 2 tăng sinh và 2 ni sinh); có 36 Tăng Ni trực tiếp trụ trì hoặc kiêm nhiệm tại các chùa và 22 chùa chưa có sư trụ trì mà do Ban Hội tự địa phương quản lý.

2. Mặt trái của kinh tế thị trường được tác giả phân tích là điều kiện thúc đẩy nhu cầu tìm đến Phật giáo như thế nào? Khóa luận chỉ ra rằng quá trình chuyển dịch kinh tế kéo theo áp lực thất nghiệp ở lao động nông thôn, sự phân hóa giàu nghèo, ô nhiễm môi trường do chất thải công nghiệp và bệnh tật gia tăng. Trước những bất trắc, rủi ro không lường trước được của kinh tế thị trường, người dân nảy sinh tâm lý lo âu, bất an và tìm đến cửa chùa để tìm kiếm sự bù đắp tinh thần, cầu mong sự che chở và an tâm thông qua niềm tin vào giáo lý nhân quả, tự tu giải thoát.

3. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nghị quyết của Đảng nào được tác giả viện dẫn làm cơ sở pháp lý? Tác giả viện dẫn các văn bản chính: Nghị quyết 24-NQ/TW (năm 1990), Văn kiện Đại hội VII của Đảng (năm 1991), Chỉ thị 37-NQ/TW (năm 1998, 1999), Nghị định 26/1999/NĐ-CP, Nghị quyết 25-NQ/TW (năm 2003), Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2004), Nghị định 92/2012/NĐ-CP, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (hiệu lực từ 01/01/2018) và Nghị định 162/2017/NĐ-CP.

4. Ngoài Phật giáo, khóa luận ghi nhận tình hình các tôn giáo khác tại huyện Văn Lâm ra sao? Huyện có 2 tôn giáo khác đang sinh hoạt: Công giáo tập trung tại Giáo xứ Đình Tổ (khoảng hơn 300 giáo dân, có Dòng nữ Đa Minh Đình Tổ gồm 12 nữ tu) và Họ giáo Hướng Đạo (gần 100 giáo dân); Đạo Tin Lành xuất hiện từ năm 2018 thuộc hệ phái Liên hữu Cơ Đốc với 1 điểm nhóm tại thôn Ngọc Quỳnh gồm khoảng 12 tín đồ sinh hoạt tại nhà riêng.

5. Những giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc cổ nào của chùa Nôm được nêu bật trong công trình? Chùa Nôm (Linh Thông cổ tự) lưu giữ hơn 100 pho tượng cổ bằng đất nung có niên đại từ thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVII - XVIII) với biểu cảm sống động, cùng tòa tượng đồng quý hiếm mang tên "Cửu Long Phật đản" miêu tả cuộc đời Đức Phật Thích Ca với hình tượng 9 con rồng uốn lượn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Xuân Khải đã hoàn thành mục tiêu làm rõ các tiền đề lý luận và thực tiễn cho sự tồn tại, phát triển của Phật giáo tại huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên từ sau năm 1999 đến năm 2019. Bằng việc kết hợp phương pháp luận triết học Mác - Lênin với số liệu thống kê cụ thể tại 58 ngôi chùa địa phương, công trình đã chứng minh sự phát triển của Phật giáo nơi đây là kết quả cộng hưởng giữa chính sách tôn giáo thông thoáng của Nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội địa phương và năng lực tự thích ứng của tổ chức Giáo hội. Đây là tài liệu khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu tôn giáo học và quản lý văn hóa - tín ngưỡng tại địa bàn nông thôn Bắc Bộ trong thời kỳ đổi mới.