Mở đầu Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hƣởng đến nuôi trồng thủy hải sản ở dải cát ven biển Bắc Quảng Bình Chƣơng 3: Đề xuất định hƣớng phát triển nuôi trồng thủy hải sản ở dải cát ven biển Bắc Quảng Bình Kết luận 4 z CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên và môi trƣờng với phát triển bền vững nuôi trồng thủy hải sản 1. Địa điểm nuôi trồng thủy sản Lựa chọn địa điểm nuôi và hệ sinh thái tại vùng nuôi có vai trò quan trọng nhất trong quản lý môi trƣờng và tác động tƣơng hỗ giữa xã hội và nuôi trồng thủy sản bền vững. Đây là vấn đề chung nhất trong nuôi trồng thủy sản ven biển và là vấn đề chi phối ngành nuôi trồng thủy sản.
Có rất nhiều thí dụ về các cơ sở nuôi tại những vị trí phù hợp, các trại nuôi này không gây ra hoặc gây ra rất ít ảnh hƣởng đến môi trƣờng. Ngƣợc lại, cũng có nhiều thí dụ về các cơ sở nuôi trồng thủy sản đƣợc xây dựng tại những vùng không phù hợp, nhƣ các đầm tôm trong các vùng rừng ngập mặn hoặc ở các vùng cát đã làm nguy hại đến rừng ngập mặn, nền đáy, bãi cát, nguồn cung cấp nƣớc ngọt và tài nguyên thiên nhiên. Tác động của các trại nuôi tôm trong các rừng ngập mặn đã đƣợc nhiều ngƣời biết đến. Cả vùng rộng lớn từ Quảng Ninh, Hải Phòng đến Khánh Hòa và các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long nhƣ Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau chịu ảnh hƣởng nặng nề.
Phá hủy rừng ngập mặn và các tác động môi trƣờng khác có liên quan đến vị trí các ao nuôi tôm phần lớn là do quy hoạch phát triển không phù hợp. Tại các tỉnh miền Trung nhƣ Ninh Thuận, Bình Thuận, việc xây dựng các ao tôm trong vùng cát đã có nhiều ảnh hƣởng tiêu cực nhƣ làm cạn kiệt nguồn nƣớc ngầm, sự xâm thực của nƣớc mặn, ô nhiễm nguồn nƣớc kéo theo sự tự ô nhiễm với kết cục là bệnh bùng phát và thiệt hại kinh tế. Các bài học kinh nghiệm từ Ninh Thuận nên đƣợc phổ b iến cho các tỉnh nuôi tôm khác để tránh những tác động tiêu cực tƣơng tự và khuyến khích việc xây dựng kế hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản một cách thận trọng hoặc thực hiện các biện pháp sửa sai kịp thời. Quy hoạch không phù hợp và hậu quả là các loại nuôi trồng thủy hải sản gây ảnh hƣởng lẫn nhau do các vị trí trại nuôi không thích hợp.
Nuôi cá lồng trên biển ở 5 z Cát Bà, Hải Phòng đã gây suy thoái vùng nƣớc xung quanh. Đây là nguyên nhân của các đợt bệnh dịch bùng phát tại các lồng nuôi và thiệt hại kinh tế là không tránh khỏi. Chọn địa điểm đặt lồng nuôi không phù hợp không những chỉ tác động lên chất lƣợng vùng nƣớc mà còn gây mâu thuẫn với các ngành khác nhƣ du lịch (Vịnh Hạ Long là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới), giao thông đƣờng thủy và khai thác cá. Nuôi trồng thủy sản trên đất liền cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực do quy hoạch và địa điểm nuôi không phù hợp.
Nuôi thâm canh cá tra, cá basa trong ao vẫn còn chƣa đƣợc điều chỉnh thông qua các kế hoạch nuôi trồng thủy sản dẫn đễn một số ao nuôi vẫn còn đƣợc xây dựng cạnh các chợ và các điểm xả nƣớc thải. Mặc dù quy định về vùng nuôi đã đƣợc đề ta cho nuôi cá basa bằng bè, nhƣng không đƣợc ngƣời nuôi tuân thủ đã dẫn đến mật độ các lồng nuôi cao tại một số khu vực, hậu quả là mức độ ô nhiễm nguồn nƣớc cao và gây nên cản trở đến giao thông thủy và đánh bắt. Sử dụng nguồn nước và chất lượng nước Đại đa số các mô hình nuôi trồng thủy sản vẫn phải sử dụng một lƣợng nƣớc lớn. Lấy thí dụ mô hình nuôi tôm tuần hoàn, thì lƣợng nƣớc phải thay vẫn rất lớn.
Nuôi tôm theo quy trình thay nƣớc thƣờng xuyên cùng với việc cho ăn thừa tạo ra chất lƣợng nƣớc thải dẫn đến tự gây ô nhiễm, bệnh phát sinh và hệ quả cuối cùng là sự thiệt hại tài chính cho ngƣời nuôi. Sự phì nhƣỡng của hệ sinh thái xung quanh do cho ăn quá mức có thể dẫn đến sự nở hoa của tảo do hàm lƣợng ni-tơ và phốt phát quá cao, gây lắng đọng trầm tích và thiếu ô xy ở bên dƣới và khu vực xung quanh các lồng nuôi và chất lƣợng nƣớc xấu do tích tụ các chất thải. Sự nở hoa của thực vật phù du có thể dẫn đến sự sinh sôi nảy nở của các loại tảo độc và có thể phát triển thành thủy triều đỏ nhƣ trong trƣờng hợp ở đảo Cát Bà có tác động tiêu cực trở lại nghề nuôi cá lồng. Ngƣời ta thấy có mùn bã hữu cơ và chất dinh dƣỡng N, P tích tụ thành trầm tích ở xung quanh khu vực lồng nuôi.
Sau nhiều năm hoạt động nghề nuôi lồng trên biển đã làm 6 z tăng thêm lớp trầm tích chất thải khoảng 3-5 cm, làm xấu đi môi trƣờng biển tại khu vực này. Ô nhiễm nguồn nƣớc cũng làm tăng mâu thuẫn giữa các ngành sản xuất khác nhau, thậm chí ngay trong chính nuôi trồng thủy sản. Trên thực tế, ngƣời nuôi tôm hùm ở Khánh Hòa cho rằng chất thải từ các ao nuôi tôm sú đã gây ra suy thoái môi trƣờng và gây chết cho tôm hùm. Bên cạnh ô nhiễm nguồn nƣớc, sử dụng bất hợp lý nguồn nƣớc cũng có tác động tiêu cực đến môi trƣờng và các đối tƣợng sử dụng tài nguyên khác.
Khai thác nƣớc ngầm ở các tỉnh miền Trung để khống chế mặn trong các ao nuôi tôm trên cát có ảnh hƣởng bất lợi đến các ngành khác (nhƣ du lịch) và đang đe dọa đến sinh kế của các cộng đồng cƣ dân dọc ven biển do làm giảm nguồn nƣớc ngọt sử dụng cho con ngƣời và sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, nguồn nƣớc ngầm rất dễ bị tổn thƣơng và dễ bị nhiễm bẩn. Để nuôi trồng thủy sản bền vững thì cần đánh giá toàn bộ tài nguyên nƣớc, bao gồm nƣớc mặt, nƣớc ngầm, nƣớc mặn. Sau đó, dựa trên cơ sở đánh giá để xây dựng dữ liệu quản lý tài nguyên nƣớc.
Ảnh hưởng của môi trường đến nuôi trồng thủy sản Những tổn thất trong nuôi trồng thủy sản do tác động của môi trƣờng và tác động của nuôi trồng thủy sản đến môi trƣờng là rất lớn. Trung bình hàng năm có khoảng 25-30% ngƣời nuôi tôm ở Việt Nam bị thua lỗ. Ô nhiễm nguồn nƣớc do nuôi tôm dẫn đến tự gây ô nhiễm của các ao nuôi và dịch bệnh bùng phát khiến cho một số tỉnh nhƣ Khánh Hòa có đến 70-80% ao nuôi tôm bị bỏ hoang trong năm 2006. Ở đồng bằng Sông Cửu Long có đến hơn 60% hộ nuôi tôm bị nợ nần từ các nguồn tín dụng.
Chi phí hóa chất bao gồm thuốc kháng sinh để trị bệnh cho tôm chiếm 14-15% tổng chi phí cho nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh ở đồng bằng Sông Cửu Long. Ngoài việc nuôi cá basa bị ảnh hƣởng bởi thị trƣờng, các tác động môi trƣờng nhƣ ô nhiễm nguồn nƣớc cũng là một trở ngại cho nghề này. Năm 2006, ở 7 z An Giang đã có khoảng 1.200 lồng đã ngừng nuôi theo nhƣ thông báo của UBND tỉnh này. Nuôi cá lồng trên biển cũng vậy, mặc dù các dấu hiệu của sự suy thoái môi trƣờng mới bắt đầu lộ ra nhƣng các hộ bị thua lỗ khá nhiều.
Bên cạnh đó, chỉ tiêu nuôi cá biển chƣa thực sự lớn về số lƣợng. Có thể thấy rằng việc xử lý các chất thải trong quá trình nuôi thủy sản trƣớc khi đổ ra môi trƣờng là rất quan trọng và cần thiết. Nhƣ vậy, sẽ tránh đƣợc ô nhiễm, mặn hóa nguồn nƣớc ngầm, không làm ảnh hƣởng đến các hệ sinh thái liền kề, dịch bệnh không xuất hiện do các chất thải làm giảm năng suất nuôi trồng. Có nhƣ vậy việc nuôi trồng thủy sản mới phát triển bền vững.
Tổng quan các tài liệu liên quan đến đề tài 1. Tình hình nuôi trồng thủy hải sản ở Việt Nam và Quảng Bình a) Tình hình nuôi trồng thủy hải sản ở Việt Nam Bên cạnh khai thác tài nguyên sinh vật tự nhiên, việc phát triển nuôi trồng thuỷ sản có thể nói là biện pháp hữu hiệu cho bảo vệ nguồn tài nguyên thủy sinh vật đồng thời bảo tồn đa dạng sinh học. Nuôi trồng thủy sản đang rất phát triển ở Việt Nam, từng bƣớc trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực phát triển rộng và có vị trí quan trọng đối với ngành và kinh tế quốc gia. Đến năm 2009 đã có khoảng 1044,7 nghìn ha nƣớc mặn, lợ và 339,9 nghìn ha nƣớc ngọt sử dụng cho nuôi trồng thuỷ sản.
Sản lƣợng nuôi trồng thuỷ sản năm 2009 đạt 2569,9 nghìn tấn các loại, chiếm trên 50% tổng sản lƣợng thủy sản Giá trị xuất khẩu các sản phẩm từ nuôi trồng luôn chiếm trên 60%. Nếu so với toàn cầu, đến nay Việt Nam có sản lƣợng thủy sản lớn thứ 3 và là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trƣởng mạnh trên thế giới. Năng lực khoa học công nghệ, vốn và sáng tạo trong tổ chức sản xuất đã góp phần làm tăng vị thế của nuôi trồng. Nƣớc ta hiện đã chủ động con giống phục vụ 8 z phát triển, sản xuất tôm giống đã trở thành một ngành sản xuất hàng hóa với sản lƣợng khoảng 30 tỷ con giống hàng năm, nhiều đối tƣợng khác đã thành công trong sản xuất nhân tạo.
Đối tƣợng nuôi cũng đa dạng, nhƣng tôm sú vẫn là đối tƣợng nuôi chủ đạo với các loài nuôi nƣớc mặn, lợ; cá tra là đối tƣợng xuất khẩu chính đối với nhóm loài thủy sản nƣớc ngọt. Công tác quản lý môi trƣờng và phòng ngừa dịch bệnh đã có chuyển biến ở các vùng nuôi. Các trung tâm môi trƣờng đã thực hiện khảo sát, phân tích dự báo và cảnh báo môi trƣờng ở các vùng nuôi trọng điểm, đã giúp ngƣ dân và ngƣời nuôi chọn thời điểm thả giống tốt, kịp thời xử lý môi trƣờng nƣớc, hạn chế dịch bệnh phát sinh. Nghề nuôi trồng thủy sản chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng bên cạnh đã góp một phần đáng kể cho sản lƣợng cũng nhƣ cho thị phần xuất khẩu thủy sản.
Nghề nuôi thủy sản còn có ý nghĩa trong việc tạo thêm công việc cho ngƣời lao động và xóa đói giảm nghèo cho các cộng đồng nông thôn ven biển cũng nhƣ góp phần giảm áp lực khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tự nhiên.