Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa: Nghiên cứu toàn diện

Phân tích biến động địa lý liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ góc nhìn địa chính trị và lịch sử. Nghiên cứu sâu về tình hình Biển Đông hiện nay.

Chuyên ngành

Địa lý

Người đăng

Ẩn danh

2007

285
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa

Biển Đông là vùng biển lớn nằm ở phía đông lãnh thổ Việt Nam, trải dài từ vĩ độ 3° đến 21° Bắc, từ kinh độ 99° đến 121° Đông. Đây là một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới với diện tích khoảng 3,5 triệu km². Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, nằm giữa lòng Biển Đông. Hoàng Sa gồm hơn 30 đảo san hô, nằm cách Đà Nẵng khoảng 400 km về phía đông. Trường Sa lớn hơn, gồm hơn 100 đảo, đá và bãi ngầm, trải dài trên diện tích rộng lớn. Vị trí địa lý chiến lược biến Biển Đông thành ngã tư giao thương quốc tế. Mỗi năm có hàng trăm nghìn tàu thuyền đi qua vùng biển này, vận chuyển khoảng một nửa lượng hàng hóa thương mại toàn cầu. Biển Đông cũng là nơi phát nguyên văn hóa hàng hải của nhân loại, với bằng chứng khảo cổ cho thấy con người đã khai thác vùng biển này từ hàng nghìn năm trước. Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa đóng vai trò then chốt trong an ninh, kinh tế và chủ quyền quốc gia.

1.1. Vị trí địa lý và ranh giới Biển Đông

Biển Đông được bao quanh bởi bờ biển của mười quốc gia và vùng lãnh thổ. Phía tây và tây nam giáp bán đảo Mã Lai cùng đảo Sumatra, phía bắc giáp Trung Quốc đại lục và đảo Đài Loan, phía đông giáp Philippines, phía nam giáp Indonesia. Ranh giới biển của Việt Nam kéo dài hơn 3.260 km bờ biển, tạo thành đường duyên hải dài nhất Đông Nam Á. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trải rộng trên diện tích khoảng 1 triệu km², bao gồm cả vùng biển xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa. Các đường ranh giới biển với các nước láng giềng như Campuchia, Thái Lan, Indonesia được xác định theo Công ước Luật Biển LHQ năm 1982.

1.2. Đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa và Trường Sa

Hoàng Sa có cấu tạo chủ yếu từ san hô, với đỉnh cao nhất chỉ khoảng 4 mét so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 25 đến 28 độ C. Trường Sa có diện tích đất liền nổi lớn hơn, với đảo Ba Bình là đảo lớn nhất. Hệ sinh thái hai quần đảo rất đa dạng, bao gồm rùa biển, nhiều loài chim di trú và hệ thống san hô phong phú. Nước biển có độ mặn trung bình 33-34 phần nghìn, phù hợp cho nhiều loài hải sản sinh sống. Thềm lục địa xung quanh các đảo chứa trữ lượng dầu khí và khoáng sản đáng kể.

II. Phân tích vai trò chiến lược và tài nguyên Biển Đông

Biển Đông giữ vị trí chiến lược bậc nhất trong hệ thống giao thương hàng hải toàn cầu. Đây là hành lang bận rộn nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, nơi hàng trăm nghìn lượt tàu thuyền qua lại mỗi năm mang theo khoảng một nửa khối lượng thương mại thế giới. Tài nguyên thiên nhiên Biển Đông vô cùng phong phú. Trữ lượng hải sản ước tính hàng triệu tấn mỗi năm, là nguồn sống của hàng triệu ngư dân ven biển. Dưới đáy biển chứa đựng trữ lượng dầu khí khổng lồ, đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nhiều quốc gia trong nhiều thập kỷ. Hệ sinh thái biển Đông thuộc vùng môi sinh Á Đông, nơi giao thoa giữa nhiều luồng hải lưu và hệ động thực vật biển nhiệt đới. Đường Wallace-Huxley chạy qua khu vực này đánh dấu ranh giới sinh học quan trọng. Ngoài ra, Biển Đông còn là vùng bay của nhiều loài chim di trú, nơi các đảo trở thành điểm dừng chân thiết yếu. Vai trò của Biển Đông ngày càng tăng trong bối cảnh eo biển Kra có thể được khai thông, biến vùng biển này thành trung tâm logistics hàng hải của thế giới.

2.1. Tài nguyên hải sản và hệ sinh thái biển

Biển Đông là một trong những ngư trường lớn nhất thế giới với hơn 2.000 loài cá và hàng nghìn loài sinh vật biển khác. Ngư nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tạo sinh kế cho hơn một triệu ngư dân. Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao bao gồm tôm, cá ngừ, cá thu, mực và nhiều loài thân mềm. Hệ san hô tại Hoàng Sa và Trường Sa là nơi sinh sản quan trọng của nhiều loài cá thương mại. Tuy nhiên, tình trạng đánh bắt quá mức và ô nhiễm môi trường đang đe dọa nghiêm trọng đến đa dạng sinh học biển. Việc bảo vệ hải sinh vật Biển Đông đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và chính sách quản lý bền vững.

2.2. Trữ lượng dầu khí và khoáng sản biển

Thềm lục địa Biển Đông chứa trữ lượng dầu khí ước tính từ 28 đến 213 tỷ thùng dầu và khoảng 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên. Các mỏ dầu lớn đã được phát hiện tại vùng biển phía nam Việt Nam, bao gồm mỏ Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng. Hoạt động khai thác dầu khí mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể cho Việt Nam. Ngoài dầu khí, đáy biển còn chứa các khoáng sản quý như titan, zircon, thiếc và mangan. Công nghệ khai thác biển sâu đang phát triển, mở ra khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên ở vùng nước sâu hơn. Tuy nhiên, tranh chấp chủ quyền tại một số khu vực đang gây khó khăn cho hoạt động thăm dò và khai thác.

III. Giải pháp bảo vệ chủ quyền và phát triển Biển Đông

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa đòi hỏi chiến lược tổng thể trên nhiều phương diện. Về mặt pháp lý, Việt Nam cần kiên trì dựa trên Công ước Luật Biển LHQ năm 1982 để khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật biển quốc nội là nền tảng quan trọng. Về kinh tế, phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển giúp tăng cường hiện diện trên vùng biển chủ quyền. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này, với khả năng đóng tàu lên đến 53.000 tấn. Xây dựng hệ thống hải đăng và cảng biển hiện đại hỗ trợ đắc lực cho hoạt động hàng hải và đánh bắt xa bờ. Về khoa học, nghiên cứu khí tượng biển, hải sinh vật và địa chất biển cung cấp dữ liệu cần thiết cho quản lý tài nguyên. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biển và bảo vệ môi trường cũng là hướng đi cần thiết. Giáo dục cộng đồng về chủ quyền biển đảo góp phần nâng cao nhận thức quốc dân về tầm quan trọng của Biển Đông.

3.1. Phát triển hạ tầng hàng hải và công nghiệp đóng tàu

Hệ thống cảng biển Việt Nam đang được đầu tư nâng cấp hiện đại hóa với các cảng lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và Bà Rịa-Vũng Tàu. Công nghiệp đóng tàu Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, với Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Vinashin đạt mức tăng trưởng 47% trong năm 2005. Các cơ sở đóng tàu có khả năng đóng mới tàu hàng 53.000 tấn, tàu chở container và tàu dầu lớn. Hệ thống hải đăng trải dài trên 3.260 km bờ biển đảm bảo an toàn hàng hải. Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch đầu tư 3 tỉ đô la cho ngành đóng tàu, đưa Việt Nam trở thành trung tâm đóng tàu mới nổi tại Đông Nam Á. Lực lượng lao động cần cù sáng tạo là lợi thế cạnh tranh quan trọng.

3.2. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Bảo vệ môi trường Biển Đông là nhiệm vụ cấp bách trước tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng. Hiện tượng thủy triều đỏ và thủy triều đen đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển. Nạn dầu loang từ tàu thuyền và hoạt động khai thác dầu khí gây ô nhiễm nguồn nước. Giải pháp bao gồm tăng cường giám sát môi trường biển, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai và ô nhiễm. Giáo dục ngư dân về đánh bắt bền vững và bảo vệ rạn san hô cần được đẩy mạnh. Hợp tác quốc tế trong cứu hộ hàng hải và xử lý sự cố môi trường biển là yếu tố không thể thiếu. Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với bảo tồn đa dạng sinh học.

IV. Kết luận về tầm quan trọng địa lý Biển Đông

Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa mang ý nghĩa sống còn đối với Việt Nam trên nhiều phương diện. Về chủ quyền quốc gia, hai quần đảo là phần lãnh thổ không thể tách rời, được chứng minh bằng bằng chứng lịch sử và pháp lý vững chắc. Về kinh tế, Biển Đông là kho tàng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ với hải sản, dầu khí và khoáng sản quý. Vị trí chiến lược biến vùng biển này thành hành lang giao thương quốc tế then chốt, nơi tập trung các tuyến hàng hải bận rộn nhất thế giới. Hệ sinh thái biển Đông với đa dạng sinh học phong phú cần được bảo vệ cho các thế hệ tương lai. Công ước Luật Biển LHQ năm 1982 là công cụ pháp lý quan trọng để Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính đáng. Sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu và hạ tầng hàng hải nâng cao năng lực quản lý và khai thác biển. Tương lai của Biển Đông phụ thuộc vào cách thức các quốc gia ven biển hợp tác để giải quyết tranh chấp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Biển Đông không chỉ là của báu của Việt Nam mà còn là di sản chung của nhân loại.

4.1. Ý nghĩa pháp lý và chủ quyền quốc gia

Theo Công ước Luật Biển LHQ năm 1982, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng lãnh hải 12 hải lý và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Thềm lục địa có thể kéo dài đến 350 hải lý hoặc xa hơn tùy theo điều kiện địa chất. Việt Nam đã xác định đường cơ sở dọc bờ biển và tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế bao gồm vùng biển xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa. Các đường ranh giới biển với các nước láng giềng được phân định trên cơ sở đàm phán song phương và quy định quốc tế. Việc bảo vệ chủ quyền biển đảo đòi hỏi sự hiện diện liên tục và hiệu quả trên thực địa.

4.2. Triển vọng phát triển kinh tế biển bền vững

Kinh tế biển Việt Nam có tiềm năng phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành kinh tế mũi nhọn. Ngư nghiệp cần chuyển đổi sang mô hình đánh bắt bền vững, áp dụng công nghệ hiện đại và tăng cường nuôi trồng thủy sản. Công nghiệp dầu khí tiếp tục là trụ cột kinh tế, với kế hoạch mở rộng thăm dò tại các vùng biển sâu. Du lịch biển và đảo đang phát triển nhanh, đặc biệt tại các điểm đến ven biển và hải đảo. Logistics hàng hải có cơ hội lớn khi tuyến hàng hải qua Biển Đông ngày càng bận rộn. Năng lượng tái tạo từ gió và sóng biển là hướng phát triển mới đầy hứa hẹn.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 1 MỤC THỨ I- Thay lời tựa II - Địa-lý Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa 1- Biển Đông Của Báu Nước Ta.1 - Khái-quát biển đảo Việt-Nam.2 - Của báu của một nước.3 - Biển Đông, sự sống còn của Việt-Nam.4 - Tài-liệu địa-dư, những yếu-tố chính-xác.1 - Sự chính-xác trong tài-liệu địa-lý.2 - Yếu-tố chính-xác dùng trong Luật Biển. 2- Biển Đông Xưa, Mai và Nay.1 - Khai-sinh của Biển Đông 2.2 - Biển Đông quá-khứ, cái nôi văn-hóa, trung-tâm phát nguyên hàng-hải.3 - Biển Đông và Ấn-Độ-Dương.4 - Biền Đông tương-lai, lãnh-hải thành lãnh-thổ.5 - Biển Đông, ngã tư thế-giới.6 - Biển Đông, hành-lang chiến-lược bận rộn của Thế-giới.7 - Với eo Kra, Biển Đông sẽ càng thêm bận rộn.8 - Công-trình xây cất, sinh-hoạt biển & bờ.1 - Công-trình mồ hôi, nước mắt.2 - Hệ-thống hải-đăng Việt-Nam.3 - Hệ-thống cảng biển Việt-Nam.4 - Sinh-hoạt ngư-nghiệp.5 - Công nghệ đóng tàu, một điểm loé sáng. 3- Hải-sinh-vật Biển-Đông.1 - Biển Đông, vùng bay của di-điểu.2 - Hải-âu, Bạn thân-thiết của người đi biển.3 - Chim trên các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.2 - Rùa và sinh-vật trên đảo ngoài Biển Đông.3 - Hải-sinh-vật ngoài biển.4 - Biển Đông và môi-trường Sinh-vật-học Việt-Nam.1 - Vùng môi-sinh Á-đông.2 - Đường Wallace – Huxley.5 - Trữ-lượng hải-sản Biển Đông.6 - Bảo-vệ môi-trường biển.7 - Hải-sinh-vật cần bảo-vệ. 4- Khí-tượng Biển Đông.1 - Tình-trạng khí-tượng tổng-quát.4 - Vùng nước xoáy. Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 3 4.5 - Nước biển, Nồng-độ muối.7 - Nước, gió và nạn dầu loang. 5- Thiên-tai và Ô-nhiễm Biển Đông.2 - Những hiện-tượng thiên-nhiên khác.3 - Thủy-triều đỏ và Thủy-triều đen. 6- Biển Đông, những sự kỳ-diệu thiên-nhiên.1 - Sự kỳ-diệu về từ-tính.2 - Sự kỳ-diệu về “địa-hình.3 - Biển Đông, bà mẹ thiên-nhiên chống ô-nhiễm.1 - Nước sạch-sẽ.2 - Gió trong lành. 7- Đảo và duyên-hải Việt-Nam.1 - Tổng-quát về hải-đảo ven bờ Việt-Nam.2 - Tổng-quát về Hoàng-Sa và Trường-Sa.3 - Sự quan-trọng của hải-đảo.4 - Quan-điểm khác nhau về quân-sự.5 - Các đảo lớn Việt-Nam. 8- Biển và đảo theo Luật Biển quốc-tế.1 - Quan-niệm cũ mới về lãnh-hải.2 - Luật Biển LHQ., một ý-thức mới về trật-tự trên biển.3 - Lãnh-thổ, lãnh-hải và hải-phận về kinh-tế.4 - Thềm lục-địa và Hải-phận Đặc-Quyền Kinh-Tế EEZ.5 - Đường căn-bản duyên-hải và nội-hải.6 - Thềm lục-địa kéo dài.7 - Diện-tích thềm lục-địa Việt-Nam.8 - Các nước lớn và luật biển. 9- Luật Biển LHQ. và Biển Đông.1 - Việt-Nam và Luật Biển.2 - Trường-hợp các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.3 - Những đường ranh Biển Đông.1 - Đường ranh biển với Kampuchea.2 - Đường ranh biển với Thái-lan.3 - Đường ranh biển với Indonesia.4 - Đường ranh biển nào ở Trường-Sa? 9.4 - Những hình vẽ hải-phận theo giả-thuyết.1 - Bản-đồ tổng-quát Biền Đông.2 - Hải-phận kinh-tế EEZ của Việt-Nam.3 - Hải-phận kinh-tế EEZ của Trung-Cộng.4 - Hải-phận EEZ của các nước Việt-Nam, Trung-Cộng, Đài-Loan, Phi-luật-tân, Mã-lai-á & Brunei.5 - Hải-phận EEZ của Việt-Nam nếu Việt-Nam kiểm-soát đảo Tri-tôn. 10 - Đặc tính chung của các đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.1 - Cấu tạo địa-chất.2 - Đất-đai san-hô.3 - Kích-thước và tuổi-tác các đảo. Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 5 10.1 - Kích-thước của đảo san-hô.2 - Tuổi đảo: thật già và thật trẻ.4 - Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về phương-diện vị-trí.5 - Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc Việt-Nam về phương-diện địa-hình đáy biển.6 - Hoàng-Sa và Trường-Sa thuộc Viêt-Nam về phương-diện địa-chất, sinh-vật-học. 11 - Thảo mộc Hoàng-Sa và Trường-Sa.1 - Tồng-quát về thảo-mộc các đảo ngoài Biền Đông. 11 2 - Tài liệu của Giáo-sư Henry Fontaine. 11 3 - Tài liệu của Giáo-sư Phạm-Hoàng-Hộ.4 - Tài liệu của Giáo-sư Sơn-Hồng-Đức.5 - Báo-cáo của Kỹ-sư Trịnh-tuấn-Anh.3 - Hải-sản Phụ.4 - Trữ-lượng dầu khí Biển Đông.5 - Dầu khí trong hải-phận do Việt-Nam kiểm-soát.6 - Những tài-nguyên Biển Đông trong tương-lai. 13 - Các đảo thuộc quần-đảo Hoàng-Sa.1 - Tên quần-đảo: Bãi Cát Vàng.2 - Chiều cao các đảo.3 - Các Bãi Ngầm Macclesfield và Scarborough.4 - Nhóm Trăng Khuyết.1 - Đảo Hoàng-Sa.2 - Đảo Hữu-nhật.3 - Đảo Duy-mộng.4 - Đảo Quang-ảnh.6 - Đảo Bạch-quỷ.7 - Đảo Tri-tôn.5 - Nhóm đảo An-Yết.1 - Đảo Phú-Lâm.2 - Đảo Linh-côn.3 - Các bãi ngầm chính. 14 - Các đảo thuộc quần-đảo Trường-Sa.1 - Địa-danh và Địa-giới Quận Trường-Sa.2 - Số lượng đảo.3 - Vùng Việt-Hoa tranh-chấp.1 - Địa-danh lịch-sử.2 - Đảo Trường-Sa.4 - Vùng Việt và 5, 6 nước tranh-chấp.5 - Vùng Việt-Hoa-Phi tranh-chấp. Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 7 14. 15 - Kiến-thức về Biển Đông và các cuộc khảo-sát vùng Hoàng-Sa, Trường-Sa.1 - Kiến-thức Biển Đông từ những ngày xa xưa.2 - Thời Lê-Nguyễn.3 - Thời Pháp-thuộc.4 - Thời Việt-Nam Cộng-hòa.1 - Các cuộc khảo-sát Biển Đông.2 - Hình-ảnh phòng thủ Trường-Sa.5 - Trung-Cộng lợi-dụng khảo-cứu để xâm-lược.6 - Chuyện anh-hùng-ca.7 - Chuyện khảo-cứu tức cười! 16 - Tổ chức ra biển. Tọa-độ địa-lý các đảo Hoàng-Sa. Tọa-độ địa-lý các đảo Trường-Sa. Sách báo tham-khảo. Bảng liệt-kê Hình-ảnh. III- Lời Bạt Cụ Nguyễn Khắc-Kham (Dư-Phủ) và Giáo-Sư Hà Mai-Phương. IV- Phụ-bản tiếng Anh. 8 – Vũ Hữu San Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 9 THAY LỜI TỰA Hiện nay có tới năm quốc gia trong vùng đang xâu xé, tranh giành chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường-Sa của Việt Nam và đòi hỏi chủ quyền toàn phần hay một phần của quần đảo này. Đó là Trung cộng, Đài loan, Phi luật tân, Mã Lai Á và Brunei. Quần đảo Hoàng-Sa của Việt Nam đã bị Trung cộng thôn tính nốt phần phía Tây của quần đảo này là Nguyệt Thiềm bằng quân sự vào tháng 1 năm 1974. Ngoài việc dùng biện pháp bạo lực để chiếm một số đảo vào năm 1988, Trung cộng có một loạt hành vi qui mô trong một kế hoạch để xác nhận chủ quyền trên vùng Trường-Sa: vào năm 1983, quốc gia này vẽ lại bản đồ nới rộng ranh giới Đông Hải mà chúng đặt tên là Nam Hải. Với bản đồ mới này, toàn vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của Trung cộng: phía đông vùng này giáp bờ biển Phi luật tân, phía tây giáp bờ biển Việt Nam và phía nam giáp Mã Lai Á. Đến tháng 2 năm 1992, chúng ban hành một đạo luật nói rằng những tàu quân sự và tàu khoa học (ám chỉ các tàu khoan, dò tìm dầu hoả) đi qua vùng biển này phải xin phép chúng. Nếu không, chúng sẽ đánh chìm. Rồi đến tháng 5 năm đó, chúng nhượng cho một công ty dầu của Mỹ là Crestone tìm dò dầu hoả trong khu vực rộng 25,000 cây số vuông nằm về phía tây quần đảo Trường-Sa, rất gần Cù lao Phú-Quý của ta. Cũng vào năm này, chúng cho tàu trawler với 2 tầu quân sự hộ tống chở một Mốc, đến đánh dấu chủ quyền trên đảo Đá Lạc. Chúng chiếm cả thảy 8 đảo của Việt nam. Tháng 6 năm 2006, chúng phổ biến một bản đồ mới, vẽ lại ranh giới vùng Biển Đông. Với Bản đồ này, ranh giới được vẽ lại tiến sát bờ bể Việt nam: cách huyện Tư Nghỉa, Quảng Ngãi (phía dưới vĩ tuyến 15) khoảng 70 hải lý, và cách Cam Ranh khoảng 45 hải lý. Chúng không để ý đến luật biển 1982 qui định thềm lục-địa của quốc gia hải cận và vùng đặc-quyền kinh-tế là 200 hải lý. Để yểm trợ cho công tác xác nhận chủ quyền này, vào năm 1994 chúng cho một số học giả Hoa lục sang Đài Loan họp với học giả địa phương thiết lập một cơ quan hỗn hợp Quốc Cộng Trung Hoa tuyên bố rằng toàn vùng biển kể trên thuộc Trung Hoa. Cơ quan hỗn hợp này có nhiệm vụ sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến tài liệu ngõ hầu chứng minh chủ quyền của Trung Hoa trên toàn vùng Đông Hải. Ngoài việc sử dụng trí thức vào công việc trên, Trung cộng từ nhiều năm nay đã chuẩn bị biện pháp quân sự để bảo vệ “phần lãnh hải ấy”. Vì hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa ở quá xa lãnh thổ của Trung Quốc, Trung cộng đã và đang tăng cường Hạm Đội Biển Xanh với mưu đồ khống chế vùng này. Ba biện pháp được áp dụng: a) đặt mua một hàng không Mẫu Hạm của Ukraine trên đó có thể chứa được 18 phi cơ SU-27 và đồng thời cải biến một tàu hàng khổng lồ thành một hàng không Mẫu Hạm khác (việc mua hàng không mẫu hạm Tbilisi, 60, 000 tấn hay Varyag, 67,000 tấn của Ukraine trị giá 2 tỹ MK từ 1992 và cải biến tầu hàng này được hoãn lại); b) mua kỹ thuật tiếp tế nhiên liệu trên không của Iran để nới rộng tầm xa của các chiến đấu cơ; c) xây dựng trên quần đảo Hoàng-Sa một căn cứ hải quân với một phi trường cho phi cơ cất cánh liền có thể lên xuống; chúng xây cả hồ nước ngọt và hiện nay có cả ngàn quân ra trấn đóng trên căn cứ ấy. Sức mạnh hải quân Trung cộng cũng được tăng cường với 24 máy bay SU-27 mới mua của Nga-Sô. Loại máy bay này tương đương với F.15 tối tân nhất của Mỹ. Chúng đang tăng cường cả tàu ngầm cho hạm đội ấy. Chúng đã cho xây một căn cứ trên một vùng đá ngầm mà Phi Luật Tân trước đó cũng đã nhận có chủ 10 – Vũ Hữu San quyền. Khi Phi Luật Tân phản đối, chúng đã phủ nhận, rồi lại nhìn nhận đấy là nơi cho ngư dân Trung cộng tá túc khi hành nghề. Phi Luật Tân đã cho phá hủy căn cứ ấy, dù hai bên bắt đầu thương thuyết tại Bắc Kinh để giải quyết tranh chấp. Không ai có thể chối cãi được hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa là của Việt Nam. Không một ai có quyền lợi dụng sự suy yếu và ươn hèn hiện hữu của của Đảng Cộng Sản đang nắm quyền tại Việt Nam, để xâu xé và ngang nhiên chiếm đóng lãnh thổ hay lãnh hải của Việt Nam. Đối với ngoại bang, hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa về phương diện Địa Lý, Lịch Sử, Pháp Chế cũng như về Hành Xử Chủ Quyền đều thuộc về Việt Nam. Hồi cuối tháng 7 năm 1994, trước lời công bố trắng trợn của một thiểu số học giả Trung cộng với sự đồng loã của một thiểu số học giả Đài Loan đòi hỏi chủ quyền trên các vùng quần đảo này, trí thức Việt Nam tại Hoa Kỳ, họp tại Đại học Stanford, California có ra một Tuyên cáo xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai vùng quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa ở Biển Đông. Hưởng ứng tuyên cáo đó, học giả Vũ Hữu San đã sưu tầm, nghiên cứu về đia lý để chứng minh chủ quyền của Việt Nam trên các vùng quần đảo này. Công trình nghiên cứu ấy đã hoàn tất và được ấn hành dưới nhan đề ĐỊA LÝ BIỂN ĐÔNG VỚI HOÀNG-SA VÀ TRƯỜNG-SA. Đây là một công trình nghiên cứu hết sức công phu với nhiều khám phá mới lạ. Soạn giả đã tỏ ra có những kiến thức vững chải và thông hiểu về hải dương học, địa chất học, sinh vật học, thảo mộc học, văn minh học, nối kết các dữ kiện hiện có trên hải đảo với đất liền của Việt Nam để chứng minh các vùng quần đảo này là đất nối dài của Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ