Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa: Nghiên cứu toàn diện

Phân tích biến động địa lý liên quan đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ góc nhìn địa chính trị và lịch sử. Nghiên cứu sâu về tình hình Biển Đông hiện nay.

Chuyên ngành

Địa lý

Tác giả

Vũ Hữu San

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình nghiên cứu

2007

285
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa

Biển Đông là vùng biển lớn nằm ở phía đông lãnh thổ Việt Nam, trải dài từ vĩ độ 3° đến 21° Bắc, từ kinh độ 99° đến 121° Đông. Đây là một trong những vùng biển quan trọng nhất thế giới với diện tích khoảng 3,5 triệu km². Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam, nằm giữa lòng Biển Đông. Hoàng Sa gồm hơn 30 đảo san hô, nằm cách Đà Nẵng khoảng 400 km về phía đông. Trường Sa lớn hơn, gồm hơn 100 đảo, đá và bãi ngầm, trải dài trên diện tích rộng lớn. Vị trí địa lý chiến lược biến Biển Đông thành ngã tư giao thương quốc tế. Mỗi năm có hàng trăm nghìn tàu thuyền đi qua vùng biển này, vận chuyển khoảng một nửa lượng hàng hóa thương mại toàn cầu. Biển Đông cũng là nơi phát nguyên văn hóa hàng hải của nhân loại, với bằng chứng khảo cổ cho thấy con người đã khai thác vùng biển này từ hàng nghìn năm trước. Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa đóng vai trò then chốt trong an ninh, kinh tế và chủ quyền quốc gia.

1.1. Vị trí địa lý và ranh giới Biển Đông

Biển Đông được bao quanh bởi bờ biển của mười quốc gia và vùng lãnh thổ. Phía tây và tây nam giáp bán đảo Mã Lai cùng đảo Sumatra, phía bắc giáp Trung Quốc đại lục và đảo Đài Loan, phía đông giáp Philippines, phía nam giáp Indonesia. Ranh giới biển của Việt Nam kéo dài hơn 3.260 km bờ biển, tạo thành đường duyên hải dài nhất Đông Nam Á. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam trải rộng trên diện tích khoảng 1 triệu km², bao gồm cả vùng biển xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa. Các đường ranh giới biển với các nước láng giềng như Campuchia, Thái Lan, Indonesia được xác định theo Công ước Luật Biển LHQ năm 1982.

1.2. Đặc điểm tự nhiên của Hoàng Sa và Trường Sa

Hoàng Sa có cấu tạo chủ yếu từ san hô, với đỉnh cao nhất chỉ khoảng 4 mét so với mực nước biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình năm từ 25 đến 28 độ C. Trường Sa có diện tích đất liền nổi lớn hơn, với đảo Ba Bình là đảo lớn nhất. Hệ sinh thái hai quần đảo rất đa dạng, bao gồm rùa biển, nhiều loài chim di trú và hệ thống san hô phong phú. Nước biển có độ mặn trung bình 33-34 phần nghìn, phù hợp cho nhiều loài hải sản sinh sống. Thềm lục địa xung quanh các đảo chứa trữ lượng dầu khí và khoáng sản đáng kể.

II. Phân tích vai trò chiến lược và tài nguyên Biển Đông

Biển Đông giữ vị trí chiến lược bậc nhất trong hệ thống giao thương hàng hải toàn cầu. Đây là hành lang bận rộn nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, nơi hàng trăm nghìn lượt tàu thuyền qua lại mỗi năm mang theo khoảng một nửa khối lượng thương mại thế giới. Tài nguyên thiên nhiên Biển Đông vô cùng phong phú. Trữ lượng hải sản ước tính hàng triệu tấn mỗi năm, là nguồn sống của hàng triệu ngư dân ven biển. Dưới đáy biển chứa đựng trữ lượng dầu khí khổng lồ, đủ để đáp ứng nhu cầu năng lượng của nhiều quốc gia trong nhiều thập kỷ. Hệ sinh thái biển Đông thuộc vùng môi sinh Á Đông, nơi giao thoa giữa nhiều luồng hải lưu và hệ động thực vật biển nhiệt đới. Đường Wallace-Huxley chạy qua khu vực này đánh dấu ranh giới sinh học quan trọng. Ngoài ra, Biển Đông còn là vùng bay của nhiều loài chim di trú, nơi các đảo trở thành điểm dừng chân thiết yếu. Vai trò của Biển Đông ngày càng tăng trong bối cảnh eo biển Kra có thể được khai thông, biến vùng biển này thành trung tâm logistics hàng hải của thế giới.

2.1. Tài nguyên hải sản và hệ sinh thái biển

Biển Đông là một trong những ngư trường lớn nhất thế giới với hơn 2.000 loài cá và hàng nghìn loài sinh vật biển khác. Ngư nghiệp đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tạo sinh kế cho hơn một triệu ngư dân. Các loài hải sản có giá trị kinh tế cao bao gồm tôm, cá ngừ, cá thu, mực và nhiều loài thân mềm. Hệ san hô tại Hoàng Sa và Trường Sa là nơi sinh sản quan trọng của nhiều loài cá thương mại. Tuy nhiên, tình trạng đánh bắt quá mức và ô nhiễm môi trường đang đe dọa nghiêm trọng đến đa dạng sinh học biển. Việc bảo vệ hải sinh vật Biển Đông đòi hỏi sự hợp tác quốc tế và chính sách quản lý bền vững.

2.2. Trữ lượng dầu khí và khoáng sản biển

Thềm lục địa Biển Đông chứa trữ lượng dầu khí ước tính từ 28 đến 213 tỷ thùng dầu và khoảng 900 nghìn tỷ feet khối khí tự nhiên. Các mỏ dầu lớn đã được phát hiện tại vùng biển phía nam Việt Nam, bao gồm mỏ Bạch Hổ, Rồng và Đại Hùng. Hoạt động khai thác dầu khí mang lại nguồn thu ngân sách đáng kể cho Việt Nam. Ngoài dầu khí, đáy biển còn chứa các khoáng sản quý như titan, zircon, thiếc và mangan. Công nghệ khai thác biển sâu đang phát triển, mở ra khả năng tiếp cận các nguồn tài nguyên ở vùng nước sâu hơn. Tuy nhiên, tranh chấp chủ quyền tại một số khu vực đang gây khó khăn cho hoạt động thăm dò và khai thác.

III. Giải pháp bảo vệ chủ quyền và phát triển Biển Đông

Bảo vệ chủ quyền Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa đòi hỏi chiến lược tổng thể trên nhiều phương diện. Về mặt pháp lý, Việt Nam cần kiên trì dựa trên Công ước Luật Biển LHQ năm 1982 để khẳng định quyền chủ quyền và quyền tài phán. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật biển quốc nội là nền tảng quan trọng. Về kinh tế, phát triển công nghiệp đóng tàu và vận tải biển giúp tăng cường hiện diện trên vùng biển chủ quyền. Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực này, với khả năng đóng tàu lên đến 53.000 tấn. Xây dựng hệ thống hải đăng và cảng biển hiện đại hỗ trợ đắc lực cho hoạt động hàng hải và đánh bắt xa bờ. Về khoa học, nghiên cứu khí tượng biển, hải sinh vật và địa chất biển cung cấp dữ liệu cần thiết cho quản lý tài nguyên. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu biển và bảo vệ môi trường cũng là hướng đi cần thiết. Giáo dục cộng đồng về chủ quyền biển đảo góp phần nâng cao nhận thức quốc dân về tầm quan trọng của Biển Đông.

3.1. Phát triển hạ tầng hàng hải và công nghiệp đóng tàu

Hệ thống cảng biển Việt Nam đang được đầu tư nâng cấp hiện đại hóa với các cảng lớn tại Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM và Bà Rịa-Vũng Tàu. Công nghiệp đóng tàu Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc, với Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Vinashin đạt mức tăng trưởng 47% trong năm 2005. Các cơ sở đóng tàu có khả năng đóng mới tàu hàng 53.000 tấn, tàu chở container và tàu dầu lớn. Hệ thống hải đăng trải dài trên 3.260 km bờ biển đảm bảo an toàn hàng hải. Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch đầu tư 3 tỉ đô la cho ngành đóng tàu, đưa Việt Nam trở thành trung tâm đóng tàu mới nổi tại Đông Nam Á. Lực lượng lao động cần cù sáng tạo là lợi thế cạnh tranh quan trọng.

3.2. Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững

Bảo vệ môi trường Biển Đông là nhiệm vụ cấp bách trước tình trạng ô nhiễm ngày càng gia tăng. Hiện tượng thủy triều đỏ và thủy triều đen đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển. Nạn dầu loang từ tàu thuyền và hoạt động khai thác dầu khí gây ô nhiễm nguồn nước. Giải pháp bao gồm tăng cường giám sát môi trường biển, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm thiên tai và ô nhiễm. Giáo dục ngư dân về đánh bắt bền vững và bảo vệ rạn san hô cần được đẩy mạnh. Hợp tác quốc tế trong cứu hộ hàng hải và xử lý sự cố môi trường biển là yếu tố không thể thiếu. Phát triển kinh tế biển phải đi đôi với bảo tồn đa dạng sinh học.

IV. Kết luận về tầm quan trọng địa lý Biển Đông

Địa lý Biển Đông với Hoàng Sa và Trường Sa mang ý nghĩa sống còn đối với Việt Nam trên nhiều phương diện. Về chủ quyền quốc gia, hai quần đảo là phần lãnh thổ không thể tách rời, được chứng minh bằng bằng chứng lịch sử và pháp lý vững chắc. Về kinh tế, Biển Đông là kho tàng tài nguyên thiên nhiên khổng lồ với hải sản, dầu khí và khoáng sản quý. Vị trí chiến lược biến vùng biển này thành hành lang giao thương quốc tế then chốt, nơi tập trung các tuyến hàng hải bận rộn nhất thế giới. Hệ sinh thái biển Đông với đa dạng sinh học phong phú cần được bảo vệ cho các thế hệ tương lai. Công ước Luật Biển LHQ năm 1982 là công cụ pháp lý quan trọng để Việt Nam bảo vệ quyền lợi chính đáng. Sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu và hạ tầng hàng hải nâng cao năng lực quản lý và khai thác biển. Tương lai của Biển Đông phụ thuộc vào cách thức các quốc gia ven biển hợp tác để giải quyết tranh chấp, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Biển Đông không chỉ là của báu của Việt Nam mà còn là di sản chung của nhân loại.

4.1. Ý nghĩa pháp lý và chủ quyền quốc gia

Theo Công ước Luật Biển LHQ năm 1982, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng lãnh hải 12 hải lý và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Thềm lục địa có thể kéo dài đến 350 hải lý hoặc xa hơn tùy theo điều kiện địa chất. Việt Nam đã xác định đường cơ sở dọc bờ biển và tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế bao gồm vùng biển xung quanh Hoàng Sa và Trường Sa. Các đường ranh giới biển với các nước láng giềng được phân định trên cơ sở đàm phán song phương và quy định quốc tế. Việc bảo vệ chủ quyền biển đảo đòi hỏi sự hiện diện liên tục và hiệu quả trên thực địa.

4.2. Triển vọng phát triển kinh tế biển bền vững

Kinh tế biển Việt Nam có tiềm năng phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành kinh tế mũi nhọn. Ngư nghiệp cần chuyển đổi sang mô hình đánh bắt bền vững, áp dụng công nghệ hiện đại và tăng cường nuôi trồng thủy sản. Công nghiệp dầu khí tiếp tục là trụ cột kinh tế, với kế hoạch mở rộng thăm dò tại các vùng biển sâu. Du lịch biển và đảo đang phát triển nhanh, đặc biệt tại các điểm đến ven biển và hải đảo. Logistics hàng hải có cơ hội lớn khi tuyến hàng hải qua Biển Đông ngày càng bận rộn. Năng lượng tái tạo từ gió và sóng biển là hướng phát triển mới đầy hứa hẹn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho "Quyển 1 - Địa-dư-Chí". Toàn tập sách có nhiều quyển, được hoàn-thành năm 1820 mang tên là "Lịch-Triều Hiến-chương Loại-chí".2 Ngày nay, danh-từ được nói một cách tổng-quát là "đất đai" như vậy cần kể thêm cả vùng trời và nhất là vùng biển bao la rộng lớn vây quanh nữa. Hoàng-Sa mất, Trường-Sa đang bị xâm-lăng. Năm 1974, quần-đảo Hoàng-Sa lọt hoàn-toàn vào tay Trung-Cộng.

Năm 1988, tức là sau đó 14 năm, nhiều vùng của Trường-Sa đã bị ngoại-lai xua quân xâm-lấn trắng trợn, đánh chìm tàu Việt-Nam, chiếm cứ hàng loạt hải-đảo của ta. Năm 1994, Trung-Cộng ngang ngược ngăn-chặn cả việc khai-thác dầu khí ngay trên thềm lục-địa Việt-Nam, chèn ép phái-đoàn Việt-Nam cũng như các nước vùng Đông-Nam-Á (ĐNÁ) khác vào những thỏa-ước song-phương có lợi cho chúng. Sang thiên-niên-kỷ mới 2000, Trung-Cộng thành-công khi áp-lực được CHXHCN Việt-Nam chấp-nhận một đường biên-giới mới trong Vịnh Bắc-Việt, thiệt-hại cho nước ta. “Hiệp định giữa nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phân định lãnh hải, vùng đặc-quyền kinh-tế và thềm lục-địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ" đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004.

Từ 2005, Việt-Nam và Phi-Luật-Tân đã bị buộc phải hợp tác để Trung-Cộng được ngang-nhiên thám-sát tài-nguyên một vùng rộng lớn 143,000 km2, sâu xuống tận cùng khu-vực cực nam của hải-phận ta. Năm nay 2007, Trung-Cộng vẫn tuyên-bố 80% Biển Đông hình Lưỡi Rồng (U shape hay 9 gạch) là của họ. Nguy-cơ Việt-Nam mất thêm đảo và hải-phận Biển Đông cũng còn nguyên đó! 1 Trích từ mạng http://www. 2 Phan-Huy-Chú.

Lịch-triều Hiến-chương Loại-chí, 1819: Bản phiên-dịch, Tập Một: Dư-địa-chí- Nhân-vật-chí- Quan-chức-chí, Hà-Nội, 1992. Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 13 Hình 1.Biển Đông với Hoàng-Sa, Trường-Sa và một số địa-danh quan-trọng. Vì nước nào có địa-phận nước ấy, người dân có bổn-phận giữ gìn lãnh-thổ cho được nguyên vẹn. Bờ cõi nước ta xưa nay bao gồm hai quần-đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa.

Chính-quyền nào của Việt-Nam cũng phải dồn nỗ-lực cho công-tác bảo-vệ di-sản của tiền-nhân. Ngoài việc phòng-thủ những đảo còn lại, quốc-sách cần bao gồm các kế-hoạch tái-lập chủ-quyền quốc-gia trên các đảo đã mất. Phần chính kế-hoạch này được bảo-mật nhưng phần chuẩn-bị cho kế-hoạch như huấn- 14 – Vũ Hữu San luyện, điều-hành, tiếp-vận, tâm-lý-chiến, tình-báo, vận-động ngoại-giao v. phải phổ-biến đến mọi lực-lượng quân-sự, dân-sự, các cơ-sở ngoại-giao, hành-chánh.

liên-hệ để tất cả sẵn sàng phối-hợp thi-hành ngay khi có biến-cố hay khi có cơ-hội thuận-tiện. Dù sao chăng nữa, đi trước tất cả những kế-sách đó, mọi người Việt-Nam chúng ta cần được "trang-bị" ngay những kiến-thức địa-dư căn-bản về hai quần-đảo trên. Ý-nghĩ sắp-xếp công việc ưu-tiên như vậy cũng là ý của người xưa. Sử-gia Phan-huy-Chú đã quyết-định ấn-hành chương "Dư-địa-chí" trước 9 chương khác là Nhân-vật-chí, Quan-chức-chí, Lễ-nghi-chí, Khoa-mục-chí, Quốc-dụng-chí, Hình-luật-chí, Binh-chế-chí, Văn-tịch-chí và Bang-giao-chí.

Ông viết một câu xác-đáng như sau: ".Vậy trước hết phải khảo-cứu những điều cốt yếu về bờ cõi lúc chia lúc hợp, núi sông chỗ hiểm, chỗ bằng, làm ra Dư-địa-chí chép lên đầu". Cùng trong nhận-thức như vậy, nhiều học-giả Việt-Nam trước đây đã từng nói là "chính-quyền nên đem ngay vấn-đề Hoàng-Sa Trường-Sa vào trong chương- trình giáo-dục học-đường, hành-chánh và quân-sự"3 Điều đề-nghị hợp-lý này đã được đưa ra từ hơn 20 năm về trước, xem ra chính-quyền lúc đó và cả chính-quyền ngày nay nữa cũng không mấy lưu-tâm. Người Việt-Nam không muốn bị ngoại-bang bắt nạt, xâm-lấn. Dân ta chỉ tiến-bộ và nước ta chỉ phú-cường với một nền giáo-dục khai-phóng.

Có lẽ vì thiếu tài-liệu để đọc, không mấy người dân trong nước nắm vững được những diễn-biến quân-sự ngoài Hoàng-Sa Trường-Sa. Tình-trạng còn mất, hiểm-nguy ngoài Biển Đông nếu bị bưng bít, chỉ có hại cho tiền-đồ Tổ-Quốc mà thôi. Khi viết sách này, không những chúng tôi đã đi ra ngoài khuôn-khổ giáo-khoa mà còn muốn lạm-bàn thêm nhiều chuyện diễn-biến cận-đại. Lại nhằm lúc không- khí chiến-tranh còn vất-vưởng, đe doạ bao trùm Biển-Đông, nên dù bài viết mang nhan-đề "Địa-lý Biển Đông với Hoàng-Sa và Trường-Sa nhưng nhân cơ-hội, chúng tôi đã ghi thêm vào vài nét "chấm-phá" về địa-lý quân-sự.

Sách viết cũng không nhằm việc tranh-cãi chủ-quyền lãnh-thổ trên trường quốc-tế nhưng vì sự tranh-chấp lãnh-hải hiện đang trong hồi quyết-liệt, chúng tôi cũng ước-lượng một số đường ranh giới về hải-phận theo với luật-pháp quốc-tế hiện-hành. Trong vài trường-hợp ý-kiến chúng tôi đi hơi quá xa. Có thể những quan-niệm riêng rẽ của cá-nhân như vậy sẽ không được dùng khi mang ra tranh-tụng trên bàn thương-thảo quốc-tế. Tuy vậy các bản-đồ về ranh-giới hải-phận không phải hoàn-toàn giả-tưởng, ít nhiều chi-tiết sẽ là những mấu chốt suy-luận trợ giúp cho việc giải-đáp một số câu hỏi rắc rối về pháp-lý sau này.2 – BIỂN ĐÔNG, SỰ SỐNG CÒN VIỆT-NAM Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển, PGS.

TS Ngô Doãn Vịnh cho rằng chúng ta phải “xây dựng chiến lược kinh tế biển cho đất nước, không thể nói khác, không thể chậm trễ hơn!” Trong bài viết bài “Chiến lược phát triển, Nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn” đề ngày 16/7/2004, nhiều câu rất xác-đáng như sau: Việt Nam có hơn 3200km bờ biển, nước ta là một quốc gia ven biển, chịu tác động mạnh mẽ, trực tiếp từ các chiến lược khai thác biển của các nước trên thế giới và nhất là của các nước trong khu vực. Trong thế kỷ 21 người ta cho là thế kỷ của Biển. Các dân tộc đua nhau ra biển, giành giật lợi ích từ biển. Các quốc gia có biển đều xây dựng chiến lược khai thác biển cho mình.

Các chiến lược gia cho rằng nếu nền kinh tế thế giới tăng trưởng với mức 6%/năm, dân số tăng khoảng 2%/năm và với trình độ công nghệ như hiện nay thì chỉ khoảng 20 năm nữa trên đất liền các nguồn tài nguyên sẽ bị cạn kiệt; với trình độ công nghệ như hiện thời thì 3 Nguyễn-Nhã, Đặc-san Sử-Địa số 29, 1975: 9. Địa Lý Biển Đông Với Hoàng-Sa và Trường-Sa − 15 không thể giải quyết được vấn đề đói nghèo, ô nhiễm môi trường, thất nghiệp… Vì thế nhân loại sẽ phải chuyển sang bốn hướng công nghệ mũi nhọn và một trong số đó là công nghệ đại dương. Trong bối cảnh đó ai ra biển trước người đó đỡ thiệt thòi hơn và có thể thu được lợi nhiều hơn từ biển. Đối với Việt Nam, trong khi công tác điều tra cơ bản về biển và ven bờ còn nhiều hạn chế, hiểu biết của chúng ta về các nước trong lĩnh vực khai thác biển cũng chưa thật nhiều, tiềm lực kinh tế cũng như khoa học công nghệ về biển chưa có gì đáng kể, thậm chí có thể nói là yếu mà chúng ta phải xây dựng chiến lược kinh tế biển cho đất nước, không thể nói khác, không thể chậm trễ hơn! vậy thì chúng ta phải làm sao đây? và làm như thế nào? Theo các tác-giả cuốn sách “Việt Nam - môi trường và cuộc sống”4 cũng như hội-viên của “Hội Bảo Vệ Thiên Nhiên và Môi Trường Việt Nam”5, Biển Đông liên-hệ đến sự sống còn của dân ta.

Các nguồn tài nguyên và môi trường biển và vùng bờ của đất nước có tầm quan trọng trực tiếp đối với hàng chục triệu người dân nông thôn, đặc biệt đối với hơn 17 triệu dân sống ở các huyện ven biển và các đảo ven bờ. Cho nên, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực bảo vệ và quản lý vùng bờ theo hướng hiệu quả và bền vững, với quan điểm là "nguồn lợi biển và tài nguyên bờ phải được sử dụng dài lâu, vừa thoả mãn được nhu cầu kinh tế trước mắt trong sức chống chịu của các hệ sinh thái, vừa duy trì được nguồn tài nguyên cho các thế hệ mai sau. Cuốn sách kết-luận: “Thế kỷ XX con người đi lên trời và vẫn tiếp tục thám hiểm vũ trụ, còn thế kỷ XXI con người sẽ đi ra biển. Thế kỷ XXI là kỷ nguyên của biển và đại dương, biển sẽ là cứu tinh của cả thế giới.

Vì biển là nơi dự trữ cuối cùng của loài người về lương thực, thực phẩm, nhiên nguyên liệu.” …Nhận diện "Việt Nam biển" cũng chính là bắt đầu một cách nhìn mới và đầy đủ về chân dung kinh tế Việt Nam. Đó là một Việt Nam mang sóng biển Đông hòa vào bể lớn của thương trường quốc tế theo cách tiếp cận phát triển bền vững. Người Tàu quan-niệm Biển Đông là “không-gian sinh-tồn” của dân-tộc họ, nên quyết-liệt giành giựt. Với chúng ta, sự quan-trọng “sinh tử tồn vong”, liên-hệ sống & chết giữa Biển Đông và dải đất hẹp Việt-Nam còn phải đặt cao hơn thế nữa mới đúng! 1.3 – TÀI-LIỆU ĐỊA-DƯ, NHỮNG YẾU-TỐ CHÍNH-XÁC Tài-liệu địa-lý cũng như các tài-liệu khoa-học khác, cần chính-xác.1 – SỰ CHÍNH-XÁC TRONG TÀI-LIỆU ĐỊA-LÝ Những tài-liệu về địa-lý kể cả hoạt-động quân-sự dùng nơi bài viết này đã được chúng tôi lấy từ các thư-viện công-cộng vùng Bắc California, ai muốn đọc đều được.

Dù sao chúng tôi cũng rất tự-chế mà không bàn đến các yếu-tố chiến-lược, chiến-thuật nếu xét rằng các yếu-tố này có thể nguy-hại đến an-ninh lãnh-thổ, nhân-mạng Việt-Nam. Cho dù đã cố gắng sưu-tầm tài-liệu, chúng tôi không tránh khỏi khuyết-điểm và nhầm lẫn khi trình-bày những kiến-thức tương-đối mới lạ này, xin quý-vị lượng- thứ. nhân-tiện đây cũng xin kêu gọi tất cả người Việt chúng ta cùng giúp nhau cẩn-trọng trong vài vấn-đề như sau: 4 Sách “Việt Nam - môi trường và cuộc sống”, Hanoi, 2004 có 3 loại ấn-phẩm: 30 trang (tóm tắt), 90 trang (phổ cập), 330 trang (chi-tiết) 5 http://www.vn/ 16 – Vũ Hữu San - Địa-danh. Về phương-diện này, học-giả Võ-Long-Tê đã đặt vấn-đề từ hai thập-niên trước đây6.

Những địa-danh như Tây-Sa, Nam-Sa, Vĩnh-Lạc v. của Trung- Hoa nên được sử-dụng một cách thận-trọng khi đề-cập đến chủ-quyền Việt-Nam. Như lời ao-ước của ông Võ-long-Tê, chúng tôi cũng đã thấy các địa-danh trong Biển Đông nên gọi theo các "đặc-danh thuần Việt". Được biết Tiến sĩ Địa mạo, chuyên sâu: Địa mạo biển Nguyễn-Hoàn đã chủ trì đề tài "Địa danh hai quần đảo Hoàng-Sa và Trường-Sa" thuộc chương trình Biển Đông - Hải đảo, mã số BĐ - HĐ - 01, các năm 1997-1999.

Nếu giới hữu-quyền Việt-Nam lại tôn-trọng Luật Biển quốc-tế và các quy-ước quốc-tế khác mà vẽ được các bản-đồ hải-phận, xác-định được đảo ra Đảo, đá ra Đá, bãi nông, bãi ngầm v. thì thật là ích quốc lợi dân lắm vậy! Những bản-đồ hay hải-đồ Biển Đông đầy đủ địa-danh Việt-Nam như vậy, đi kèm với những chi-tiết cần-thiết cũng làm chúng ta hãnh-diện với người nước ngoài và nhiều ít đóng góp thêm tài-liệu pháp-lý trong sự tuyên-bố chủ-quyền của dân ta trên biển. Qua các tài-liệu trước đây, vì chúng tôi nhận ra những con số sai-lạc nên đã tự-ý dùng các hải-đồ khả-dụng ngày nay để ước-lượng cùng sửa chữa lại cho gần với thực-tế hơn. Tuy vậy, vài con số mà chúng tôi đưa ra trong tài-liệu này chỉ là những ước-lượng (một cách phỏng-định) do cá-nhân chúng tôi đơn-độc làm lấy nên có thể còn lầm-lẫn.

Mong rằng các cơ-quan thẩm-quyền về đo đạc đưa ra những con số chính-xác làm tiêu-chuẩn sau này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ