Chương 1: Mở dau Đưa ra ý nghĩa, các mục tiêu cần nghiên cứu và nội dung khái quát của vấn đề nghiên cứu. Nêu ra phạm vĩ về không gian, thời gian, giới hạn của dé tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu Mô tả về điều kiện tự nhiên, văn hóa xã hội, điều kiện kinh tế của địa bàn nghiên cứu một cách tổng quát nhất để giúp người nghiên cứu có cái nhìn chung nhất về địa bàn. Từ đó đưa ra các nhận xét, kết luận về mặt mạnh, mặt yếu có liên quan của địa phương nhằm làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu.
Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý thuyết, lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu; các khái niệm, định nghĩa, công thức tính toán chuyên biệt được sử đụng trong khóa luận. Giới thiệu khái quát, có hệ thống các phương pháp thu thập, xử lý số liệu, các phương pháp phân tích được sử dụng trong khóa luận. Chương 4: Kết quả và thảo luận Nêu lên các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu bằng cách sử dụng các phương pháp nghiên cứu đã giới thiệu ở chương trước. Thông qua đó đưa ra các phân tích, thảo luận các kết quả đạt được về mặt lý luận thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày ngắn gọn các kết quả chính của đề tài đã đạt được trong quá trình nghiên cứu, ý nghĩa rút ra. Nêu ra những hạn chế của quá trình nghiên cứu, của khóa luận. Trên cơ sở đó, đề ra các kiến nghị, giải pháp có liên quan. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.Diéu kiện tự nhiên 2.
Vị trí địa lý Quận Gò Vấp nằm ở phía Bắc nội thành Thành phố Hồ Chí Minh lại nằm trên vùng đất “Gò” cao (hơn 11m so với mặt biển) có nước ngọt của sông Bến Cát - phụ lưu của sông Sài Gòn - thuận lợi canh tác, sinh hoạt và có ranh giới như sau: Hình 2.1: Bản Dé Địa Giới Quận Gò Vấp Phía Đông giáp quận 12 qua sông Bến Cát, Vàm Thuật. Phía Tây giáp quận 12 qua kênh Tham Lương. a oS er = ——— ——— Phía Nam giáp sân bay Tân Sơn Nhất quận Tân Bình, quận Bình Thạnh và quận Phú Nhuận. Phía Bắc giáp quận 12 qua sông Bến Cát.
Tổng diện tích tự nhiên toàn quận: 1975,85ha trải dài theo hướng Đông — Tây với chiều đài khoảng 7,5 km và chiều rộng hướng Bắc — Nam nơi rộng nhất khoảng 5,9km. Theo Nghị định số 143/2006/N-CP của Chính phủ ngày 23 tháng 11 năm 2006, quận Gò Vấp được điều chỉnh địa giới, có 16 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm các phường: 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 và 17. Có thêm 4 phường mới là các phường: 4, 6, 8, 9 tách từ các phường 12, L1 và phường 17 cũ. Địa hình Quận Gò Vấp có địa hình tương đối bằng phẳng, độ déc trung bình từ 2,3% xuống còn 0,1% và độ cao mặt đất thay đổi từ 11,0m xuống còn dưới 1,0m.
Cao nhất ở khu vực ven sân bay Tân Sơn Nhất (11m) và thấp nhất ở khu vực ven sông Bến Cát (Im) có thể chia ra làm hai loại địa hình sau: Vùng địa hình thấp trăng: nằm doc theo sông Bến Cát, gọi là vùng tring vì nằm trong vùng đất phèn thường bị ngập theo triều. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp, nhưng năng suất cây trồng không cao. Vùng địa hình cao: chiếm phan lớn điện tích phù hợp với việc xây dựng nhà máy sản xuất công nghiệp. Quá trình đô thị hóa chủ yếu diễn ra trên phần đất này, nhưng từ năm 1975 trở về trước diễn ra rất chậm.
Vì vậy, trong nhiều năm, Gò Vấp giống một huyện hơn là một quận. Tình hình này đã căn ban thay déi từ những năm 80. Khí hậu - thời tiết Gò Vấp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa xích đạo, mang tính chất chung là nóng âm với nhiệt độ trung bình là 27°C và mưa nhiều. Vì trực thuộc thành phố Hồ Chí Minh nên Gò Vấp chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu thành phố với hai mùa mưa nắng rõ rệt.
Số giờ nắng trung bình trong tháng đạt từ 160-270 giờ. Độ am không khí trung bình là 79. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, những cơn mưa thường xảy ra vào buổi xế chiều. Mưa to nhưng mau tanh, ít khi mưa ra rich kéo dài suốt ngày.
Lượng mưa bình 5 quân năm là 1979 mm. Số ngày mưa trung bình năm là 159 ngày (>90% lượng mưa tập trung vào các tháng mùa mưa). Mùa nắng kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4. Nhiệt độ trung bình năm là 27.55°C (tháng nóng nhất là tháng 4.
Thời gian nóng nhất trong năm là tháng 3, tháng 4, tháng 5; nhiệt độ trung bình hàng tháng trên 28°C, có những ngày nhiệt độ lên đến 34°C. Còn những tháng khác nhiệt độ trung bình thay đổi trong khoảng từ 26 — 270C. Nói chung, quận Gò Vấp ít bị ảnh hưởng của gió to, bão lớn. Thời tiết ôn hòa, nhiệt độ én định trong năm, rất thuận lợi cho phát triển sản xuất.
Thủy văn Chịu ảnh hưởng bán nhật triều cường không đều trên sông Sài Gòn, mực nước cao từ 1,32m đến 1,60m. Nguồn nước chủ yếu của quận là từ sông Bến Cát, với chiều rộng trung bình của sông là 60m, chiều sâu trung bình là 40m, đổ ra sông Sài Gòn tại cửa Vàm Thuật. Bên trong địa bàn quận, sông Bến Cát phân thành 2 nhánh: rạch Bến Thượng nối với kênh Tham Lương thuộc địa bàn quận Tân Phú và nhánh sông Bến Cát nối với sông Rạch Tra thuộc huyện Hóc Môn. Đất đai Hiện trạng sử dụng và kế hoạch điều chỉnh đến năm 2010 và dự báo đến năm 2020 là toàn quận có tổng điện tích dat tự nhiên khoảng 1975,85 ha trong đó: Bảng 2.1: Hiện Trạng Sử Dụng Đất của Quận Đến Năm 2010 Diễn giải Diện tích (ha) Cơ cấu (%) Dat ở 919,43 46,5 Đất công trình công cộng 81,86 4,1 Đất cây xanh 58,89 3 Đất giao thông 290,74 14,7 Dat tôn giáo 23,89 Le Đất trung tâm làng hoa 2,2 1,3 Dat công nghiệp 100,45 $1 Đất công trình đầu nối kỹ thuật đô thị 35 0,1 Đât công trình an ninh quốc phòng 153,45 7,8 Đất sông rạch 64,63 3,3 Đất nông nghiệp 256,9 13 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 21,22 1 Nguôn: phòng thong kê Qua Bang 2.1 ta thấy diện tích đất của quận phần lớn là đất ở (46,5%), đất nông nghiệp của quận các năm qua có giảm nhiều do đô thị hóa nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ tương đối so với các loại đất khác (13%).
Trong bảng trên ta thấy đất trung tâm làng hoa còn rất ít ( khoảng 2,2ha) sẽ là đất của HTX hoa kiếng nơi sẽ gìn giữ và phát huy nghề trồng hoa kiểng của cả quận. Tuy diện tích đất nông nghiệp và làng hoa còn ít nhưng quận sẽ điều chỉnh giữ nguyên quỹ đất này tới năm 2010 và có thể tới năm 2020 đây cũng là một thuận lợi cho ngành trồng hao kiểng của quận. Thổ nhưỡng và địa chất Quận Gò vấp có 3 dạng đặc trưng sau: — Đất xám trên nền phù sa cổ: có điện tích khoảng 1330 ha, chiếm phần lớn điện tích của toàn quận, phân bố trên dạng địa hình cao, địa hình này thoát nước tốt và phù hợp với các công trình xây dựng nhờ nền đất cứng. — Đất xám grây: điện tích khoảng 156 ha, phân bố trên dạng địa hình triền, thường bị ngập nước vào mùa mưa.
— Đất phèn tiềm tàng sâu: diện tích khoảng 384 ha, phân bố trên dạng địa hình trũng, vùng này có khả năng chịu lực kém.Đặc điểm kinh tế - xã hội 2. Dân sô - Lao động Tính đến ngày 31/12/2006 dân số của toàn quận là 503.139 người, trong đó nữ chiếm 51,87%, nam chiếm 48,13%. Mật độ dân số toàn quận năm 2006 là 25.464 ngudi/km’ tăng 4.457 người so với năm 2003 (20. Tỷ lệ tăng tự nhiên trong năm qua là 10,86%o , tỷ lệ tang cơ học là 13,31%o.
Quá trình đô thị hóa quá nhanh đã làm cho Gò Vấp trở thành một trong ba quận có tốc độ tăng dân số cơ học cao nhát thành phó. Cụ thể, năm 1976 Gò vấp có 144000 dân thì năm 1995 đã có 223000 người, năm 2000 là 231000, năm 2003 là 413000 và năm 2006 là 503000 người. Tinh từ năm 1995 đến năm 2006, dân số của Gò Vấp tăng 1,26 lần, tốc độ tăng bình quân năm là Có 8 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống ở Gò Vấp, đông nhất là người Kinh, gần 98%; người Hoa hơn 1,8%. Các dân tộc khác chỉ chiếm khoảng 0,2%.
Các dân tộc và các tôn giáo ở Gò Vấp hình thành một cộng đồng thống nhất trong sự bình yên.2: Diễn Biến Dân Số của Quận Gò Vấp Qua Các Năm:. Năm Diên giải DVT 2001 2002 2003 2004 2005 Dân số Người 342.337 Lao động Người 237.897 Viéc lam Người 177.054 Ty lệ lao động có .4 viéc lam Nguôn: Phòng thông kê Năm 2005 số dân của quận là 472.337 người, lao động chiếm tới 335.897 người chiếm 71.11% dân số toàn quận nhưng tỷ lệ lao động có việc làm so với số lao động lại được 80.2 ta thấy từ năm 2001 đến năm 2005 tốc độ tăng dân số trung bình hằng năm của quận 7.56% trong khi tốc độ tăng bình quân lao động hằng 8 năm lên tới 8.24% cho thấy lực lượng lao động ngày càng đồi dào. Tuy tỷ lệ lao động có việc làm hăng năm tăng lên nhưng vẫn không giải quyết đủ việc làm cho người lao động trong quận. Tổng dân số của quận là 503.139 người với 334.722 người trong độ tuổi lao động.
Mức sống dân cư khoảng 952.450 đồng người/tháng. Trong năm vừa qua quận đã giới thiệu việc làm cho 16.576 lượt lao động trong đó 300 lao động là bộ đội xuất ngũ, 42 thuộc diện chính sách, đạt 103,11% kế hoạch năm. Xây dựng 27 căn nhà tình thương với tổng kinh phí 338,94 triệu.881 thé bảo hiểm y tế cho các hộ nghèo trong chương trình. Đến nay toàn quận có 115.77% số hộ có mức thu nhập vượt trên 5.000 đồng/người/năm; 129,88% số hộ vượt trên 6.000 đồng/người/năm.461 hộ xóa đói giảm nghèo trên tổng số 88.381 hộ dân toàn quận, chiếm tỷ lệ 2,78% (mức thu nhập < 5.000 đồng/người/năm).
Giáo dục — Y tế a) Giáo dục: Hiệu quả giáo dục đào tạo của quận tại các bậc học vẫn dat được mức cao dù trường lớp, CSVC còn nhiều khốn khó. Trong năm học vừa qua chất lượng đào tạo đạt 98,4% ở cấp tiểu học, 92. Tỷ lệ học sinh lớp 9 được xét công nhận THCS và bé túc là 99,42%. Ty lệ học sinh lớp 10 theo học tại các loại hình trường lớp là 99.