Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Một số công trình nghiên cứu về vai trò phát triển nông nghiệp ngoại thành Tác giả J.Von Thunen (1826) trong “The Isolated State with Respect to Agriculture and Political Economy” (Nông nghiệp và kinh tế chính trị trong nhà nước cô lập) [86] làm rõ vai trò của nông nghiệp ngoại thành (vành đai nông nghiệp) đối với các thành phố. Tác giả cho rằng, chi phí vận chuyển từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ, nhất là tính chất, vai trò của các vành đai nông nghiệp đem lại cho khu vực đô thị sẽ quyết định chủ yếu đối với sự phân bố của một số hình thức sản xuất nông nghiệp.
Từ đó, các VĐX sản xuất nông nghiệp xung quanh một trung tâm đô thị với khoảng cách phù hợp sẽ thu được lợi nhuận tối đa. Tiếp tục hướng nghiên cứu của J.Von Thunen, một số công trình khoa học của nhiều tác giả nước ngoài nghiên cứu về khái niệm, vai trò, đặc điểm, những yếu tố tác động; tiềm năng cũng như thách thức đối với sự phát triển nông nghiệp đô thị; trên cơ sở nghiên cứu một số trường hợp ở các nước trên thế giới, các tác giả đưa ra những chính sách nhằm thúc đẩy nông nghiệp đô thị theo hướng bền vững. Theo hướng này, các tác giả cho rằng, nông nghiệp đô thị có vai trò quan trọng không chỉ cung ứng lương thực, thực phẩm tươi sống cho cư dân đô thị, mà còn tạo việc làm thời vụ, cải thiện môi trường sinh thái cho khu vực nội đô của từng thành phố. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này, có thể kể đến các công trình: “Urban Agriculture: Food, Jobs and Sustainable Cities” (Nông nghiệp đô thị: lương thực, việc làm và các đô thị bền vững) của các tác giả Smith J.
(1996) [84]; “Urban 9 agriculture: definition, presence, potentials and risks” (Nông nghiệp đô thị: định nghĩa, sự hiện diện, tiềm năng và rủi ro) của tác giả Mougeot J. (1999) [80]; “The Special Programme for Food Security: Urban and Periurban Agriculture” (Chương trình đặc biệt về an ninh lương thực: nông nghiệp đô thị và ven đô) của FAO (2001) [75]… Tác giả Nugent (2000) với “The Impact of Urban Agriculture on the Household and Local Economies” (Ảnh hưởng của nông nghiệp đô thị đối với các hộ gia đình và các nền kinh tế địa phương) [81] đã nghiên cứu ở 17 thành phố lớn trên thế giới, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, người dân vùng ven các đô thị lớn quyết định duy trì sản xuất nông nghiệp vì những lý do chủ yếu như: 1) Phục vụ nhu cầu tiêu dùng của gia đình; 2) Đa dạng hóa nguồn thu nhập; 3) Tránh rủi ro về kinh tế; 4) Đối phó với tình trạng tăng giá lương thực, thực phẩm trên thị trường; 5) Tạo thêm việc làm cho lao động gia đình; 6) Bảo đảm an ninh sinh kế cũng như an ninh tài sản đất. Trong nghiên cứu “Profitability and sustainability of urban and peri- urban agriculture” (Lợi nhuận và tính bền vững của nông nghiệp đô thị và ven đô) [76] của FAO (2007) cho rằng, nguồn lương thực, thực phẩm như gia cầm, sữa, rau… sản xuất ở vùng đô thị thường có giá trị cao; sản phẩm được tiêu thụ trực tiếp nên chi phí vận chuyển, lưu kho, bảo quản… luôn thấp hơn các sản phẩm cùng loại và hệ thống phân phối nhanh gọn nên bảo đảm tính tươi sống của các mặt hàng nông sản. Nông nghiệp đô thị góp phần: 1) Cải thiện mức sống của người thành thị; 2) Tận dụng các chất thải (lỏng và rắn) từ đô thị và công nghiệp để làm phân bón và đưa đất hoang hóa vào sử dụng.
Tiềm năng mang lại từ nông nghiệp đô thị rất lớn, có vai trò rất quan trọng trong quá trình ĐTH và phát triển các đô thị lớn trên thế giới với chức năng: 1) Bảo đảm an ninh lương thực (ANLT) và dinh dưỡng cho vùng đô thị; 2) Phát triển kinh tế nông thôn; 3) Xóa đói giảm nghèo ở nông thôn; 4) Góp phần vào việc quản lý môi trường đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích 10 mang lại, nông nghiệp đô thị cũng có những rủi ro: 1) Rủi ro cho sức khỏe cộng đồng khi các bệnh truyền nhiễm qua những thực phẩm tươi sống: do sử dụng nguồn nước ô nhiễm hoặc nhiễm khuẩn trong sản xuất nông nghiệp, sơ chế, chế biến nông sản; ô nhiễm nước uống do các chất tồn dư từ nông nghiệp như thuốc bảo vệ thực vật và phân bón; 2) Tác động tiêu cực đến môi trường: ô nhiễm nguồn nước do sử dụng quá mức phân đạm, thuốc trừ sâu, phân gia súc và gia cầm… Tác giả Phạm Sỹ Liêm (2009) trong “Nông nghiệp đô thị trong quy hoạch thành phố Hà Nội” [30] cho rằng, phát triển nông nghiệp những vùng ven đô thị (nông nghiệp đô thị) đang được các nước trong khu vực triển khai rất thành công. Nông nghiệp ven đô thị không chỉ đem lại lợi ích về kinh tế, mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt xã hội và môi trường: 1) Về kinh tế, nhờ có nông nghiệp mà đô thị không còn là nơi chỉ nhập lương thực, thực phẩm từ nông thôn và xuất rác thải trở lại đó, mà giúp giảm chi phí vận chuyển và diện tích kho lạnh cho thực phẩm tươi sống. Điều quan trọng là nông nghiệp đô thị giải quyết nhiều việc làm thích hợp cho phụ nữ, nông dân bị thu hồi đất để mở rộng đô thị và cho nông dân ngoại tỉnh nhập cư vào đô thị; 2) Về xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng thông qua các nhóm làm vườn rau, vườn hoa công cộng, các nhóm tương trợ có cùng sở thích như trồng rau thủy canh, trồng nấm, nuôi ong, chim cá cảnh…; bồi đắp tình yêu thiên nhiên, quý trọng sự sống và thái độ tích cực đối với xã hội, tạo cơ hội vận động thân thể và thư giãn tâm trí cho những người lao động trí óc; 3) Về môi trường, sản xuất nông nghiệp sử dụng, tái chế nước thải và rác thải; giảm lượng rác sinh hoạt vì thực phẩm đã qua sơ chế; đồng thời, làm đẹp cảnh quan vùng đô thị với những VĐX nông nghiệp.
Tuy nhiên, VĐX nông nghiệp luôn có nguy cơ bị thị trường bất động sản “gặm nhấm” làm suy giảm, biến mất dần. Để bảo vệ sự tồn tại của VĐX, ngoài việc sử dụng các công cụ hành chính và pháp lý, còn cần vận dụng khéo 11 léo công cụ kinh tế, cụ thể là bỏ vốn đầu tư đưa nông nghiệp đô thị vào khu vực này để nâng mức thu nhập của người lao động lên sát với mức trung bình của người dân nội thành. Không nên để cho những người dân mất đất đối mặt với các thách thức “hậu thu hồi đất” mà cần tổ chức họ lại, đưa họ vào trận tuyến nông nghiệp đô thị của thành phố. Tác giả Nguyễn Văn Toàn (2010) trong “Sử dụng tài nguyên đất Hà Nội theo hướng bền vững” [53] cho rằng, nông nghiệp ngoại thành Hà Nội không chỉ làm tốt chức năng kinh tế, mà còn đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ môi trường đô thị khi hình thành VĐX kết hợp du lịch nông nghiệp sinh thái.
Để phát triển nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người nông dân ngoại thành Hà Nội cần nghiên cứu lai tạo, sản xuất lúa đặc sản, có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Thủ đô. Đồng thời, phải phát huy lợi thế so sánh trong sản xuất rau an toàn, cây ăn quả đặc sản, hoa, cây cảnh công nghệ cao… Tác giả Nguyễn Đăng Nghĩa và Mai Thành Phụng (2011) trong “Nông nghiệp đô thị và ven đô thị” [33] đã cho rằng, cơ hội cũng như thuận lợi trong phát triển nông nghiệp ven đô là giảm chi phí đóng gói, lưu trữ và vận chuyển thực phẩm tươi sống; đồng thời góp phần tạo việc làm, thu nhập cho người thất nghiệp và hưu trí ở khu vực ven đô. Nông nghiệp đô thị và ven đô có nhiều lợi thế khi dễ dàng tiếp cận các dịch vụ (tài chính, chuyển giao KHCN, du lịch…). Loại hình nông nghiệp này còn góp phần giảm thiểu những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu (BĐKH), hạn chế ô nhiễm môi trường khi khả năng tái sử dụng lớn chất thải hữu cơ từ đô thị.
Tuy nhiên, nông nghiệp đô thị và ven đô thường chịu thách thức, rủi ro cho sự phát triển khi bị cạnh tranh về đất, nước, năng lượng và lao động với các ngành kinh tế khác; bị tác động lớn đến chất lượng khi sử dụng nguồn nước ô nhiễm do chất thải đô thị, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe và môi trường sống của cư dân ngoại thành. 12 Tác giả Hồ Cao Việt (2013) trong “Cơ sở khoa học của các hình thái phát triển nông nghiệp đô thị và vận dụng cho Đồng bằng sông Cửu Long” [72] đã hệ thống, làm rõ: khái niệm, vai trò, chức năng, nguyên nhân và những rủi ro của nông nghiệp đô thị. Nghiên cứu ở các nước về nông nghiệp đô thị với thuật ngữ “urban agriculture” xuất hiện từ những năm đầu của thế kỷ XXI và mô hình này phát triển ở nhiều thành phố lớn trên thế giới. Nông nghiệp đô thị xuất phát từ những nguyên nhân sau: (i) Giảm diện tích đất canh tác do công nghiệp hóa và ĐTH; (ii) Giảm thu nhập của hộ nông dân trong quá trình công nghiệp hóa và ĐTH ở vùng ven đô; (iii) Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế (lao động, vốn, đất, trình độ sản xuất) bị giảm sút; (iv) Lợi thế so sánh về hiệu quả kinh tế của nông sản sản xuất tại chỗ và các nông sản mang về thành thị từ nơi khác (giảm chi phí vận chuyển và chi phí trung gian, giá bán cạnh tranh, giảm tỷ lệ hao hụt); (v) Nông dân ven đô có điều kiện tốt hơn khi tiếp cận nhanh với KHCN mới; (vi) Hệ thống kết cấu hạ tầng (KCHT) và logistics thuận lợi hơn.
Quỹ GSRD (GSRD Foundation), Quỹ châu Á (The Asia Foundation) và Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam (2016) với tài liệu “Phát triển nông nghiệp ven đô, hướng tới cuộc sống tốt đẹp hơn cho người dân” [21] cho rằng, nông nghiệp ngoại thành góp phần giải quyết việc làm, bảo đảm an sinh xã hội, cung cấp một lượng thực phẩm an toàn, tươi sống với chất lượng cao; đồng thời góp phần làm tăng sức chịu tải, khả năng tự làm sạch của môi trường, cải tạo điều kiện vi khí hậu, ô nhiễm không khí, tạo ra môi trường xanh, trong lành, có lợi cho sức khỏe người dân đô thị.