CHƯƠNG 1 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT ĐẶC SẢN BƯỞI PHÚC TRẠCH 1. Giới thiệu tổng quan về đặc sản bưởi phúc trạch ở huyện hương khê – tỉnh hà tĩnh 1. Giới thiệu tổng quan về huyện Hương Khê 1. Điều kiện tự nhiên Hương Khê là một huyện miền núi ở về phía tây của tỉnh Hà Tĩnh, nằm trong khoảng 18010’ vĩ độ Bắc, 105042’ kinh độ Đông.
Phía bắc giáp huyện Vũ Quang, Đức Thọ, phía nam giáp huyện Tuyên Hoá tỉnh Quảng Bình, phía đông giáp huyện Can Lộc, huyện Thạch Hà và huyện Cẩm Xuyên, phía tây giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, đường biên giới dài hơn 50 km. Hương Khê có cơ sở vật chất hạ tầng, hệ thống giao thông thuận lợi, đường sắt Bắc-Nam chạy dọc huyện với chiều dài 45 km, có 5 nhà ga, trong đó có 1 ga chính tại thị trấn Hương Khê, đường Hồ Chí Minh đi qua 14 xã, thị trấn dài 41 km, quốc lộ 15A dài 50 km và gần 100 km đường tỉnh lộ, rất thuận lợi cho giao lưu văn hoá, kinh tế xã hội với các huyện khác trong tỉnh cũng như các vùng miền trong cả nước. Về mặt địa hình, huyện Hương Khê nằm gọn trong một thung lũng hình lòng máng của hai dãy núi Trường Sơn và Trà Sơn. Địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên.
Bao gồm nhiều đồi núi nhấp nhô lượn sóng, độ dốc thoải dần từ Nam ra Bắc cho nên dòng sông Ngàn Sâu chảy theo hướng ra Bắc của thung lũng đóng khung giữa hai dãy núi. Có thể nói Ngàn Sâu là con sông duy nhất để thoát nước vào mùa mưa lũ, triền núi dốc lòng hẹp lại uốn khúc quanh co nên mùa mưa dễ gây ra lụt lớn trong vùng, ngược lại về mùa khô, sông cạn, bờ cao, độ dốc lớn, đồng ruộng bị khô hạn, bị chia cắt do địa hình không bằng phẳng. Khí hậu Hương Khê là vùng khí hậu gió mùa rất rõ nét, gió Đông Bắc thổi từ tháng 9 đến tháng 2 mang theo mưa rét, gió Tây Nam, miền Trung thường gọi là gió Lào, gió này thổi vào khoảng tháng 4 đến tháng 8, có khi sớm hoặc muộn hơn. Gió 6 Lào là một trong những nhân tố tạo ra sự khắc nghiệt của khí hậu, thời tiết Hương Khê.
Hàng năm, Hương Khê có hai mùa rõ rệt: mùa nắng từ tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, lượng mưa trung bình từ 2200 đến 2400 mm/năm. Với tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện Hương Khê là 127.680 ha, chủ yếu là đất Pheralit, ít màu mỡ, trong đó rừng và đất lâm nghiệp chiếm 93.954 ha (74%) đất sản xuất nông nghiệp chiếm 12.738 ha (10%) còn lại là đất khác. Đặc điểm kinh tế xã hội So với nhiều huyện khác của tỉnh Hà Tĩnh thì Hương Khê là một huyện trẻ được tách ra từ huyện Hương Sơn cũ từ năm 1867, đến nay huyện Hương Khê đã có lịch sử hơn 140 năm hình thành và phát triển. Toàn huyện có 21 xã và một thị trấn, dân số có gần 11 vạn người, trong đó có 51.400 lao động (lao động nông nghiệp 36.800 người), có 5 bản dân tộc với 193 hộ và 814 nhân khẩu, trong đó có gần 200 người dân tộc Chứt sống ở bản Rào Tre – xã Hương Lâm và Bản Giàng 2 – xã Hương Vĩnh.
Toàn huyện có 8 xã đặc biệt khó khăn, hưởng chương trình theo quyết định 135 và nghị định 116 của Chính phủ. Mật độ dân số trung bình 81 người/km2, phân bổ không đồng đều, mật độ đông nhất là ở thị trấn huyện: 2778 người/km2, thấp nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới như xã Hòa Hải: 43 người/km2, xã Hương Lâm: 26 người/km2. Hương Khê nổi tiếng với Sơn Phòng, căn cứ địa của vua Hàm Nghi thời kì chống Pháp, hiện nay thành Sơn Phòng đã được công nhận là di tích văn hoá lịch sử cấp quốc gia, một số địa danh được công nhận là di tích văn hoá lịch sử cấp tỉnh như Miếu Trăm Năm, và nhiều di tích thắng cảnh khác như Đền Công Đồng, Rôộc Cồn, Cầu Địa Lợi, Đập Sông Tiêm, Hồ Bình Sơn, Thác Vũ Môn… Hương Khê mới thực sự đi vào công cuộc xây dựng từ đầu những năm 1990. Người dân Hương Khê có truyền thống hiếu học, anh hùng, có ý chí vươn lên trong công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quê hương.
Năm 1995 huyện đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lược lượng vũ trang nhân dân”. Đến cuối năm 2012, cán bộ và nhân dân huyện Hương Khê đã tranh thủ các nguồn lực, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, phấn đấu và đã 7 giành được những kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực: tổng giá trị sản xuất đạt 346,9 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 8,2% năm, thu nhập bình quân đầu người 9,022 triệu đồng/người/năm, sản lượng lương thực đạt 19,172 tấn, tăng 10,96% so với năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại tăng 10,69% so với năm 2011. Tuy mới chỉ là những chuyển biến bước đầu nhưng tràn đầy hứa hẹn, đã chứng tỏ một Hương Khê trẻ trung, hăng hái vươn lên mạnh mẽ theo đà đổi mới của đất nước. Một vùng quê nghèo, một huyện miền núi đã thực sự chuyển mình theo tiếng gọi “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” của đất nước, của dân tộc để hoà nhập vào thế giới văn minh.
Tình hình sản xuất nông nghiệp Hương Khê là huyện nhiều tiềm năng lợi thế: diện tích rộng có khả năng phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi, phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại với các loại cây ăn quả đặc sản nổi tiếng như Bưởi Phúc Trạch, cam Khe Mây, và nhiều loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như cây gió trầm, thông nhựa, cao su, chè công nghiệp… Thu nhập kinh tế của huyện chủ yếu từ sản xuất nông – lâm nghiệp (chiếm gần 63%). Huyện đã hoàn chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, đang tiến hành chuyển đổi sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn II, giao đất, giao rừng, cấp GCN QSD đất cho người dân để sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh trên địa bàn, đồng thời triển khai các biện pháp, giải pháp đảm bảo cơ cấu sản xuất, quy trình, lịch thời vụ, phòng trừ sâu bệnh, phòng chống rét cho cây trồng, vật nuôi. Ban hành và thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2015. Hoàn thành quy hoạch cây con chủ lực đến năm 2020.
Tập huấn chuyển giao kỹ thuật, hỗ trợ giá giống, đưa giống mới có năng suất, chất lượng vào sản xuất. Năm 2012 giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp hơn 899,2 tỷ đồng. Tổng sản lượng lương thực đạt 26. Một số cây trồng chính: Lúa: sản lượng 21.486 tấn; Ngô: sản lượng 4.708 tấn; Lạc: sản lượng: 4.710 tấn; Đậu: sản lượng 2.698 tấn; Chè: 161,5ha, sản lượng 1.
Toàn huyện đang bắt tay vào công cuộc chỉnh trang vườn hộ, đã cải tạo 20 vườn mẫu. Tổng thu nhập từ kinh tế vườn đạt trên 80 tỷ 8 đồng, trong đó: thu nhập từ cây ăn quả đạt trên 50 tỷ đồng. Giá trị kinh tế/đơn vị diện tích đạt 43,8 triệu đồng/ha. Một hạn chế trong sản xuất nông nghiệp của toàn huyện là quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ; việc ứng dụng kỷ thuật, quy trình, công nghệ, thực hiện các chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh, huyện chưa quyết liệt; mô hình có hiệu quả còn ít, chưa tập trung cao trong chỉ đạo đầu tư thâm canh; chấp hành lịch thời vụ và quy trình trong sản xuất chưa nghiêm túc.
Vì vậy mục tiêu đặt ra cho toàn huyện trong thời gian tới là phát huy kết quả đạt được trong những năm qua; đẩy mạnh chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; xây dựng kết cấu hạ tầng; ứng dụng tiến bộ kỷ thuật vào phát triển sản xuất, chăn nuôi; phát triển kinh tế vườn, kinh tế trang trại. Tổng quan về sản phẩm bưởi và giới thiệu đặc sản Bưởi Phúc Trạch 1. Tính năng và công dụng của sản phẩm Bưởi Bưởi có tên khoa học là Citrus maxima (Burm.) Merr hay Citrus grandis (L.) Osbeck, là loại quả thuộc họ Cam - Rutaceae, chi Cam chanh. Bưởi thường được trồng ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, các nước vùng Địa Trung Hải.
Ở Việt Nam bưởi được trồng ở hầu hết các tỉnh, những nơi có bưởi ngon nổi tiếng: bưởi Đoan Hùng ở Vĩnh Phú, bưởi Phúc Trạch ở Hương Khê, Hà Tĩnh, bưởi Thanh Trà ở Huế, bưởi Diễn ở Hà Nội, bưởi Da xanh ở Bến Tre, bưởi Năm roi ở Vĩnh Long… Một số tính năng công dụng đặc biệt của bưởi phải kể đến như giá trị dinh dưỡng, giá trị y học, giá trị kinh tế, giá trị văn hóa truyền thống… 1.1 Giá trị dinh dưỡng Trong các loại quả có nhiều loại đường dễ tiêu, các axit hữu cơ, protein, lipit, các chất khoáng, pectin, các hợp chất thơm và các chất khác… Có nhiều loại vitamin như vitamin A, B, C, PP. Quả bưởi có tính thanh nhiệt và có chứa nhiều thành phần rất có lợi cho sức khoẻ con người. Nước bưởi chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, đạm, béo, acid tannic, bêta-caroten và các chất khống Phospho, sắt, Calci, Kali, Magie. Trong 100g phần ăn được của bưởi có: nước 80g, glucid 9g, protid 0,6g, lipid 0,1g; các chất khoáng: Ca 23mg, P 19mg, Fe 0,5mg, chất xơ 0,7g (ngoài ra 9 còn các K, Mg, Na, Mn, Cu…), các vitamin B1 0,04mg, B2 0,02mg, PP 0,3mg, C 95mg, cung cấp 30-43 calo.
Trong đó hàm lượng vitamin C khá cao, trung bình một quả bưởi chứa gần 92,5 mg vitamin C cao gấp khoảng 10 lần so với quả lê. Các thành phần dinh dưỡng khác thì tương tự với các loại cây cùng thuộc họ cam, quít. Đặc biệt những loại bưởi không hạt được coi là tốt hơn cả, bởi chúng có chứa một lượng lớn đường tự nhiên, canxi và photpho. Các loại bưởi không hạt thường có tép bưởi màu trắng hay hồng.
Bưởi ruột hồng có chứa một lượng lớn vitamin A và beta carotene (một chất chống oxy hoá) giúp sáng và khoẻ mắt. Có thể nói, bưởi là trái cây cung cấp nhiều loại chất dinh dưỡng cho con người, là nguồn dinh dưỡng quý giá cần cho con người ở mọi lứa tuổi và nghề nghiệp khác nhau.2 Giá trị y học Có thể nói hầu hết cây ăn quả đều là cây thuốc, các loại quả và các bộ phận khác của cây như rễ, lá, hoa, vỏ, hạt là những vị thuốc được sử dụng khá phổ biến trong đông y.