Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp đô thị 1. Một số khái niệm cơ bản - Nông nghiệp Theo từ điển Bách khoa Nông nghiệp (1991): Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai với cây trồng làm tư liệu sản xuất chính để tạo ra lương thực, thực phẩm, một số nguyên liệu cho công nghiệp (Nguyễn Văn Trương, Trịnh Văn Thịnh, 1991).
Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995) cũng định nghĩa: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội; sử dụng đất đai để trồng trọt, chăn nuôi; khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995). Nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Theo nghĩa hẹp, nông nghiệp chỉ gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp. Nhìn chung, các khái niệm về nông nghiệp được nêu trên đều bao hàm hai nội dung: một là đó là các hoạt động liên quan đến đất đai, cây trồng, vật nuôi làm tư liệu sản xuất chính, hai là nhằm mục đích sản xuất ra lương thực, thực phẩm phục vụ nhu cầu của con người và một số ngành công nghiệp khác.
- Đô thị Ở nước ta, theo Luật Quy hoạch đô thị (2015): Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Văn phòng Quốc hội, 2015). Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995): Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông 13 nghiệp (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, 1995). Theo thông tư 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của Ban Tổ chức - Cán bộ chính phủ - Bộ xây dựng: Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong huyện (Ban Tổ chức - Cán bộ chính phủ - Bộ xây dựng, 1990). Trong Nghị định 42/2009/NĐ-CP về Phân loại đô thị, đô thị ở nước ta có 6 loại: đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV và đô thị loại V, trong đó, đô thị loại V (ở cấp phân loại nhỏ nhất) phải thỏa mãn 3 chỉ tiêu sau: quy mô dân số ≥ 4.000 người; mật độ dân số ≥ 2.000 người/km2 và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ≥65% (Chính phủ, 2009).
Như vậy, đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở tích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, của cả một miền đô thị, của một đô thị, một huyện hoặc một đô thị trong huyện. - Nông nghiệp đô thị Theo tác giả Lê Văn Trưởng định nghĩa: nông nghiệp đô thị là một ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ cao cấp. Nông nghiệp đô thị bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các hoạt động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản. Theo tác giả Phạm Sỹ Liêm định nghĩa: “NNĐT là ngành kinh tế trong đô thị và ven đô, sản xuất, chế biến cung ứng cho người dân đô thị lương thực, thực phẩm tươi sống, hoa, sinh vật cảnh; dùng phương pháp canh tác hữu cơ và công nghệ cao không cần nhiều đất, không gây ô nhiễm môi trường, sử dụng và tái sử dụng tài 14 nguyên và chất thải đô thị; tăng thêm không gian xanh và cơ hội thư giãn cho người dân đô thị” (Phạm Sỹ Liêm, 2009).
Theo Hội làm vườn Việt Nam: NNĐT là sản xuất cây trồng và vật nuôi trong và quanh đô thị. Quá trình sản xuất diễn ra trong đô thị và tác động qua lại với hệ sinh thái đô thị như: người dân đô thị trở thành người sản xuất, sử dụng nguồn nguyên liệu đặc trưng của đô thị (rác thải hữu cơ ủ làm phân, nước thải để tới cây, v.v…), gắn kết với người tiêu dùng đô thị, tác động trực tiếp đến hệ sinh thái đô thị, trở thành một phần của chuỗi thực phẩm đô thị, cạnh tranh đất và các hoạt động khác của đô thị, bị ảnh hưởng bởi chủ trương và kết hoạch phát triển đô thị (Trung Tâm khuyến nông Quốc gia, 2011). Dựa trên nhiều quan niệm khác nhau về NNĐT, tác giả có thể hiểu NNĐT như sau: NNĐT là ngành kinh tế phát triển ở đô thị (nội ô và ngoại ô) với các hoạt động chủ yếu trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản nhằm sử dụng hợp lý các nguồn lực và mang lại hiệu quả kinh tế cao phục vụ nhu cầu thiết yếu cho dân cư đô thị. - Chuyển dịch cơ cấu NNĐT Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp đô thị là một quá trình nhằm thực hiện chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu NNĐT, góp phần kích cầu và thúc đẩy sản xuất nông nghiệp đô thị phát triển bền vững.
Hiện nay, sự thay đổi tỉ lệ trong cơ cấu ngành nông nghiệp đô thị là sự thay đổi tất yếu, phù hợp với quy mô, cơ cấu, giá trị của các loại hàng hóa sản xuất, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng trong quá trình thay đổi về số lượng và chất lượng; thay đổi về mối liên hệ giữa nông nghiệp và các ngành kinh tế khác. Đó là sự thay đổi tỉ lệ giữa các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm sản và thủy sản trong cơ cấu ngành NNĐT. Vì vậy, có thể hiểu chuyển dịch cơ cấu NNĐT là quá trình thay đổi về quy mô, cơ cấu, giá trị của các chuyên ngành sản xuất ngành nông nghiệp theo hướng thích ứng nhiều hơn với nhu cầu thị trường, đồng thời phát huy được lợi thế so sánh của từng chuyên ngành, tạo ra cơ cấu ngành NNĐT mang tính ổn định cao hơn, hiệu quả kinh tế tốt hơn và phát triển bền vững hơn trong thời kì kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Vai trò của nông nghiệp đô thị - Góp phần cung ứng nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống tại chỗ cho các đô thị Quá trình đô thị hóa nhanh chóng đang diễn ra cùng với sự gia tăng nhanh chóng về nghèo đói ở thành thị và mất an ninh lương thực đô thị.
Hầu hết các thành phố ở các nước đang phát triển đều gặp khó khăn lớn để đối phó với sự phát triển này và không thể tạo ra đủ cơ hội việc làm chính thức cho người nghèo. Họ cũng gặp nhiều vấn đề với việc xử lý chất thải đô thị và nước thải và duy trì chất lượng không khí và nước sông. Nông nghiệp đô thị cung cấp một chiến lược bổ sung để giảm nghèo đô thị và mất an ninh lương thực và tăng cường quản lý môi trường đô thị. Nông nghiệp đô thị đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường an ninh lương thực đô thị vì chi phí cung cấp và phân phối thực phẩm cho khu vực đô thị dựa trên sản xuất và nhập khẩu nông thôn tiếp tục tăng, và không đáp ứng nhu cầu, đặc biệt là các khu vực dân cư nghèo.
Tầm quan trọng của nông nghiệp đô thị ngày càng được công nhận bởi các tổ chức quốc tế như UN-Habitat và FAO (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Thế giới). - Tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư ở đô thị Quá trình đô thị hóa, làm cho diện tích đất nông nghiệp bị thu hẹp của người dân ven đô diễn ra phổ biến. Người dân mất đất canh tác, thiếu việc làm buộc phải di cư vào các thành phố lớn dễ dẫn đến tình trạng thiếu việc làm, gia tăng tội phạm, gây mất an ninh, trật tự đô thị. Phát triển NNĐT cũng là khả năng tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động để tạo ra việc làm và tăng thu nhập cho bộ phận dân cư đô thị nhất là những người có thu nhập thấp như phụ nữ, người già; đặc biệt là cho lao động phổ thông.
Trong thành phố hầu như không có cơ hội việc làm cho nhóm lao động này. Trang trại đô thị có thể tạo ra nơi làm việc cho những người có trình độ học vấn thấp. Các trang trại đô thị cũng cung cấp rau, trái cây nên là một phần không thể thiếu cho thực đơn hàng ngày của trẻ em. Ở nhiều thành phố, những người thuộc nhóm có thu nhập thấp phải dành phần lớn thu nhập của họ cho thực phẩm.
Trồng thực phẩm tiết kiệm chi tiêu hộ gia đình cho thực phẩm, không phải chi tiền cho một số sản phẩm. Người nghèo ở các nước nghèo thường dành một phần đáng kể thu nhập của 16 họ cho thực phẩm. Trồng rau cho gia đình sẽ tiết kiệm tiền cũng như trao đổi sản phẩm. Bán sản phẩm (tươi hoặc chế biến) mang lại tiền mặt.
Do đó, nếu nông nghiệp đô thị được quan tâm và có quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư để góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán việc làm và thu nhập trong tiến trình đô thị hóa. - Nông nghiệp đô thị dễ tiếp cận các dịch vụ đô thị Các đô thị thường là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học – kĩ thuật của cả nước hay của vùng nên thường tập trung nguồn nhân lực, cơ sở vật chất kĩ thuật hạ tầng phát triển.