chương I, tác giả trình bày tổng quan về sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản, nhằm nâng lên những đặt trưng chủ yếu, có tính đặc thù cũng như vai trò của nông nghiệp đối với quá trình CNH, HĐH của Nhật Bản. Chương II, trình bày các giải pháp chủ yếu đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản, đặc biệt là các giải pháp về đất đai, về sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, về tổ chức quản lý nông nghiệp, hợp tác quốc tế và bảo hộ nông nghiệp của Nhật Bản. Chương III, làm rõ những thành tựu và những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản cũng như mô hình và những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản đối với Việt Nam trong quá trình CNH hiện nay. - "Nông nghiệp Hàn Quốc trên con đường phát triển" của Trần Quang Minh [61] đã nêu rõ, Hàn Quốc đã trải qua hơn nửa thế kỷ thực hiện CNH, HĐH đất nước.
Trong quá trình này, không chỉ các ngành công nghiệp của Hàn Quốc đạt được những thành tựu phát triển hết sức mạnh mẽ làm nên cái tên gọi "kỳ tích sông Hàn", mà ngành nông nghiệp của Hàn Quốc cũng từng bước đi lên hiện đại, bộ mặt nông thôn ngày càng được đổi mới. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn trong quá trình CNH, HĐH chắc chắn là những tham khảo rất có giá trị đối với Việt Nam. Cuốn sách tập trung phân tích một cách toàn diện tiến trình phát triển nông nghiệp của Hàn Quốc từ truyền thống đến hiện đại; các chính sách và giải pháp giải quyết những vấn đề đặt ra trên con đường phát triển hiện đại của nông nghiệp và nông thôn Hàn Quốc và đề xuất một số gợi ý chính sách cho sự phát triển nông nghiệp Việt Nam trên cơ sở những kinh nghiệm của Hàn Quốc. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và đánh giá những kinh nghiệm của Hàn Quốc về phát triển nông nghiệp và nông thôn là hết sức cần thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với Việt Nam.
- "Quá trình phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở Trung Quốc 1978-2008" của Nguyễn Xuân Cường [22] đã nêu rõ, Trung Quốc là nước nông nghiệp lớn với 11 dân số đông nhất thế giới. Hơn nửa thế kỷ qua, nhất là từ khi tiến hành cải cách mở cửa năm 1978 đến nay, Trung Quốc đã giành được những thành tựu to lớn và toàn diện, trong đó có lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Những kinh nghiệm của Trung Quốc trong quá tŕnh cải cách nông nghiệp, nông thôn; phát triển hài hòa giữa nông thôn và thành thị; phát triển cân bằng giữa công nghiệp và nông nghiệp; xây dựng NTM xă hội chủ nghĩa…là những kinh nghiệm hữu ích cho Việt Nam. - Ngoài ra còn có thể kể đến: "Hàn Quốc đất nước con người" của Trung tâm Dịch vụ Thông tin hải ngoại Hàn Quốc [92]; "Kinh tế Thái Lan một số chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX" của Trương Duy Hòa [44]; "Kinh tế thế giới năm 2020: Xu hướng và thách thức" của Tạ Kim Ngọc [66];"Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn, kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc" của Trần Hữu Phú [71].
Tổng quan các công trình nghiên cứu kể trên tập trung đi sâu các đặc trưng chủ yếu từ điều kiện đất đai, công nghệ, sản phẩm, giá trị và thu nhập trên lĩnh vực nông nghiệp của các nước. Từng giai đoạn phát triển, các tác giả đã làm rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và mức độ đóng góp của nền nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của mỗi nước. Đặc biệt là đối với Châu Phi như một sự điển hình về duy trì sự sống, đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Bên cạnh những mặt tích cực và những lợi thế, các nghiên cứu cũng chỉ ra nhiều vấn đề nan giải trong phát triển nông nghiệp của mỗi quốc gia mà cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
Từ đó, các tác giả đã đưa ra những kiến nghị giải pháp khác nhau nhằm hướng tới tổ chức, quản lý hiệu quả nền nông nghiệp quốc gia, những kiến nghị, giải pháp này cũng là những bài học quý giá cho những quốc gia nông nghiệp như Việt Nam. Một số luận án tiến sĩ - "Nghiên cứu mô hình sản xuất nông nghiệp bền vững trong vùng dự án ngọt hóa Gò Công" của Nguyễn Văn Khang [50] đã lý giải được những mô hình sản xuất bền vững ở khu vực ngọt hóa Gò Công tỉnh Tiền Giang, từ đó giúp cho nông dân lựa chọn được những mô hình có thể áp dụng trong quá trình sản xuất có thể mang lại hiệu quả, ít tác động đến môi trường sinh thái; đánh giá được những thay đổi trong sản xuất và đời sống của người dân trước và sau ngọt hóa; định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo những mục tiêu khác nhau. Những công trình này có thể áp dụng được những địa phương khác có điều kiện về địa lý, sản xuất tương tự trong khu vực. 12 - "Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái, giai đoạn 2012-2020" của Bùi Nữ Hoàng Oanh [68] đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về đất nông nghiệp; đề cập hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất, phân tích xu hướng suy giảm đất nông nghiệp và những tác động làm suy thoái đất trong quá trình sản xuất.
Luận án đã nêu lên một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại tỉnh, như: nêu lên giải pháp về quy hoạch sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật (KH-KT), liên kết vùng sản xuất, các điều kiện đảm bảo cho các giải pháp thực hiện được và trách nhiệm các cấp, các ngành để đảm bảo tính khả thi của luận án. - "Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc" của Bùi Minh Hồng [45] đã phân tích, làm rõ được thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp, xem đó là thứ hàng hóa đặc biệt, đó là tài sản, là nguồn lực quý giá của mỗi quốc. Luận án đã tập trung, đi sâu phân tích thực trạng thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở tỉnh Vĩnh Phúc, chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế, cũng như những yếu kém của thị trường này. Từ đó, tác giả đề xuất những phương hướng, giải pháp, tạo môi trường thông thoáng cho thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp phát triển linh hoạt nhằm khai thác có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ tốt cho CNH, HĐH.
- "Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam" của Nguyễn Hữu Sở [79] đã xoay quanh vấn đề phát triển kinh tế bền vững, luận án đã nhấn mạnh đến khả năng phát triển liên tục, lâu dài, không gây ra những hậu quả tai hại khó khôi phục ở những lĩnh vực khác, nhất là thiên nhiên và xã hội. Phát triển kinh tế mà hủy hoại đến môi trường là phát triển không bền vững. Phát triển mà chỉ dựa vào lượng tài nguyên sẵn có là phát triển không thể lâu dài được. Tác giả cũng nêu lên quan điểm cho rằng, phát triển kinh tế mà để phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực (FDI) cũng là khó bền vững, vì nguồn ấy có nhiều rủi ro, không chắc chắn.
Hai thành tố nòng cốt của phát triển là văn hóa và xã hội. Để chuyển hóa khái niệm phát triển kinh tế bền vững từ cấp độ lý thuyết áp dụng vào thực tiễn, khái niệm cần được làm sáng tỏ sau đó áp dụng trực tiếp đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Những công trình nghiên cứu công bố trên các tạp chí, hội thảo Những năm gần đây, nhất là từ sau Hội nghị lần thứ bảy, Khóa X khi Nghị quyết của BCH TW Đảng về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban 13 hành và đi vào thực hiện, theo đó đã có ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu nhận được sự quan tâm xã hội, các nhà nghiên cứu, dưới đây xin nêu một số công trình liên quan như: - "Quyết định số 153/2004/TTg ban hành văn bản Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 21)" của Thủ tướng Chính phủ [86]. Theo đó, phát triển bền vững là xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực thực hiện.
Đó cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam quyết tâm biến thành hành động, ở hiện tại và tương lai. - "Nông dân và nông nghiệp Việt Nam nhìn từ sản xuất thị trường" của Võ Tòng Xuân [110] đã cho rằng, hạn chế lớn nhất của nông nghiệp hiện nay là sản xuất một cách rất tự phát, muốn trồng giống gì thì trồng, muốn sử dụng kỹ thuật thế nào là tùy ý. Người dân trồng lúa nhưng không biết ai sẽ mua, doanh nghiệp chỉ biết thương lái, đối tác, bỏ mặc người dân. Đến khi thu hoạch, tiêu thụ người dân cũng không thể quyết định được giá cả, luôn thua lỗ, thiệt thòi.
Tác giả đề xuất hướng ra là cần sớm xây dựng mô hình Công ty cổ phần nông nghiệp; mạnh dạn chuyển hướng phát huy tiềm năng tự nhiên và người lao động; Nhà nước cần linh hoạt trong điều chuyển cơ chế, chính sách cho phù hợp với thị trường. - "Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta hiện nay" của Vương Đình Huệ [42] đã chỉ rõ, trước bối cảnh phát triển kinh tế luôn biến động, có nhiều cơ hội, thách thức đan xen cả trong nước và hội nhập quốc tế, bài viết đề xuất một số nội dung và giải pháp cần thiết, cấp bách, góp phần nghiên cứu tiếp tục đổi mới căn bản và đồng bộ về chiến lược, thể chế và tổ chức trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa X của Ban Chấp hành Trung ương và Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được phê duyệt. - "Con đường bền vững nhất cho nông nghiệp" của Nguyễn Quốc Vọng [108] đã nêu rõ, một nền nông nghiệp chất lượng cao là con đường bền vững nhất để nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam đứng vững và phát triển trong kỷ nguyên hội nhập. Tác giả cung cấp 5 "luật chơi" của thị trường nông sản thế giới, từ đó chỉ ra những hạn chế, yếu kém của nông nghiệp Việt Nam và nghiên cứu giải pháp từ Australia để chúng ta có thêm cách nhìn về nền nông nghiệp nước nhà.