Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN LỰC TẠI CÁC DOANH NGHIỆP DU LỊCH TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI VÀ TRONG NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã phân tích ở nhiều góc độ về Nhân lực trong phát triển Du lịch và đưa ra nhiều giải pháp nhằm phát triển nhân lực…tùy theo nội dung, tính chất, mục đích, yên cầu và đối tượng nghiên cứu của từng công trình mà tác giả đưa ra từng lời giải cụ thể xin khái quán một số công trình tiêu biểu sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến thực tiễn nhân lực tại các doanh nghiệp du lịch trong hội nhập quốc tế Ngành du lịch ngày nay không những đem lại nguồn thu lớn cho mỗi quốc gia, mà nó còn góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển, cũng như đưa hình ảnh quê hương đất nước đến bạn bè quốc tế. Đúng như vậy câu hỏi đặt ra để phát triển ngành du lịch như thế nào cho tương xứng tiềm năng, thế mạnh của mỗi quốc gia, muốn làm được điều đó các quốc gia phải đặt vị trí con người là then chốt để giải quyết vấn đề.
Do vậy giải pháp để có nguồn nhận lực chất lượng đáp ứng được lĩnh vực này là chủ để được thu hút quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có các công trình tiều biểu sau đây: 1. Các công trình nước ngoài liên quan đến nhân lực, phát triển nhân lực nói chung Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu về nhân lực và phát triển nhân lực ở nhiều góc độ và nội dung khác nhau cả lý luận và thực tiễn, tùy vào mục tiêu và đối tượng nghiên cứu từng công trình mà tác giải có những nghiên cứu chuyên sâu. Nhân lực và phát triển nhân lực hiện nay đã và đang thu hút sự 8 quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài, khái quát một số công trình tiêu biểu sau: - Nhóm tác giả Edward Prescott, Robert Lucas và Stokey, “Recursive Methods in Economic Dynamics”. Cuốn sách của các tác giả đã phân loại vốn thành hai lọai là vốn hữu hình và vốn nhân lực.
Trong đó, khi sản xuất thì vốn nhân lực là loại vốn có vai trò rất quan trọng. Trong nghiên cứu này, các tác giả luận giải rõ khái niệm, vai trò cũng như cách thức, phương pháp phát triển vốn nhân lực để góp phần phát triển sản xuất kinh tế, trong đó, tác giả nhấn mạnh để phát triển nhân lực cần làm tốt nâng cao tay nghề cho người lao động của mỗi quốc gia [99]. Wayne Nafziger, “The Economics of Developing countries - Kinh tế học các nước đang phát triển”. Tác giả đã đi sâu phân tích vấn đề liên quan đến nhân lực ở các nước đang phát triển và đã khẳng định, để phát triển kinh tế ở các nước này thì nhân lực chính là nguồn tài nguyên vô hạn và quan trọng nhất.
Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh một số cách thức để nâng cao hơn nữa chất lượng nhân lực ở các nước phát triển như giáo dục, y tế, việc quy hoạch và hợp tác quốc tế về đào tạo phát triển nhân lực. Bên cạnh đó, tác giả cũng nhấn mạnh việc nâng cao chính sách, chế độ đãi ngộ để giữ chân nhân sự, hạn chế vấn đề chảy máu chất xám ở các nước đang phát triển [24].J, “Dual Perceptions of HRD: Issues for Policy: SME’s, Other Constituencies, and the Contested Definitions of Human Resource Development, Human Resource Development Outlook, Pacific Economic Cooperation Council Development Task Force 2000-2001”; trong nghiên cứu công bố năm 2001 trên tạp chí Human Resource Development Outlook đã đưa ra khái niệm về phát triển NNL. Theo tác giả định nghĩa thì, phát triển NNL được hiểu rằng là một bộ phận cấu thành nên việc phát triển con người, và để phát triển NNL cần chú trọng phát triển về số lượng, chất lượng nhân lực [94].Hainsworth và cộng sự, “Lao động, việc làm và nguồn nhân lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới”; Các tác giả đã nhận định, để nâng cao chất lượng lao động ở Việt Nam cần cải thiện chất lượng đào tạo như tăng số lượng giáo viên, phòng học, cải thiện các trang thiết bị phục vụ giảng dạy, đổi mới chương trình đào tạo gắn với thực tiễn khoa học. Đồng thời, có cơ chế chính sách hợp lý cho nhân lực hiện nay [25].
- Jim Stewart và Graham Beaver, “Human resouch Development in Small Organisations Research and practice - Phát triển NNL trong các tổ chức qui mô nhỏ nghiên cứu và thực tiễn”. Các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về phát triển nguồn nhận lực và đề ra phương pháp phát triển nguồn nhân lực ở các tổ chức có quy mô nhỏ từ đó từ tổng thể đề từng chi tiết cụ thể trong các mô hình nhỏ từ phương pháp đến thực hiện [92]. - Yasuhiko INOUE, “The source and the power source of the Members of Vietnam, Japan”. Tác giả khẳng định chất lượng NNL là một vấn đề chính và luôn được các chuyên gia thảo luận trên khắp thế giới.
Trong đó, nhóm tác giả cũng chỉ rõ trong các hội thảo quốc tế, các chuyên gia đều khẳng định để nâng cao chất lượng nhân lực thì việc nâng cao chất lượng của các cơ sở giáo dục với môi trường làm việc thực tế, có sự kết hợp giữa tư nhân và chính phủ là yếu tố rất cần thiết và quan trọng hiện nay [101]. Wang and Judy Y. Sun, “Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development, Human Resource Development International”. Đứng trên góc độ xã hội nhóm tác giả đã đi sâu phân tích và làm rõ khái niệm về nhân lực, NNL, phát triển NNL cũng như vai trò của phát triển NNL đối với sự phát triển của xã hội nói chung và kinh tế ngành nói riêng [89].Prescott, Crummer, Maria W.Taylor, “The Transformation of Human Resources Management - Chuyển hóa nguồn nhân lực” do Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân biên dịch đã có những luận giải về 10 nhân lực, NNL.
Nhóm tác giả cũng khẳng định, con người chính là nguồn tài nguyên để phát triển nền kinh tế xã hội hiện nay [84]. Như vậy, nhân lực và phát triển nhân lực đối với nền kinh tế nói chung, đồng thời luận giải được một số khái niệm về nhân lực, phát triển nhân lực, vai trò của nhân lực và phát triển nhân lực. Đây được xem là những bài học kinh nghiệm để tỉnh Ninh Bình có thể vận dụng vào việc phát triển nhân lực cho ngành du lịch và các DNDL của tỉnh. Các công trình nước ngoài liên quan đến nhân lực du lịch và phát triển nhân lực trong các doanh nghiệp du lịch trong bối cảnh hội nhập quốc tế Không chỉ ở Việt Nam, hiện nay các nước trên thế giới đều xác định du lịch là một trong những ngành kinh tế quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế quốc gia.
Để du lịch phát triển mạnh, cần tập trung thúc đẩy phát triển nhân lực du lịch cho các DNDL. Vì vậy, liên quan đến vấn đề này đã và đang được các nhà khoa học quốc tế quan tâm, trong đó có một số công trình như: - Martin Oppermann, Kyex-Sung Chon, “Tourism in Developing Countries” [95]. Các tác giả công bố cuốn sách “Du lịch ở các nước đang phát triển”, nghiên cứu từ sự phát triển của các khu nghỉ mát ven biển, khu du lịch ngoài đô thị nhằm đa dạng hóa các loại hình du lịch cũng như sản phẩm du lịch ngày càng phát triển, đã không ngừng ngày càng đóng góp cho sự tăng trưởng, phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Do vậy nhân lực du lịch nói riêng và nhân lực tại các DNDL nói chung cần phải đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và có tinh thần phục vụ, chất lượng ngày càng cao.
Từ nghiên cứu thực tế nhân lực du lịch tại các nước đang phát triển, các tác giả khẳng định rằng: các Chính phủ của mỗi quốc gia cần phải xây dựng cho được các chính sách sao cho nhân lực du lịch có được trình độ nghiệp vụ chuyên môn với kiến thức cơ bản phục vụ tốt ngành du lịch, đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp du lịch góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội của các quốc gia trong quá trình hội nhập. 11 - Greg Richards, Derek Hall, “Tourism and sustainable community development”, Routledge, NY [90]. Các tác giả đã phân tích trên phạm vi rộng từ Châu Âu đến Châu Á, để từ đó đưa ra công trình: “Du lịch và phát triển cộng đồng bền vững”. Trong công trình nghiên cứu này, các tác giả khẳng định vai trò quan trọng của cộng đồng địa phương nói chung và nhân lực tại cộng đồng nói riêng trong việc phát triển du lịch bền vững đối với mỗi quốc gia.
Nhóm tác giả cũng nhận định, muốn sở hữu đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, thành thạo về nghệp vụ, có kỹ năng giao tiếp tốt, khả năng ngoại ngữ, tin học đảm bảo. Vì vậy, trong hệ thống các giải pháp nhóm tác giả đề xuất nhằm phát triển du lịch bền vững thì giải pháp giáo dục cho nhân lực là giải pháp được ưu tiên hàng đầu.McCool and Christopher D.Haynes, “Sustainabỉe Tourism in Protected Areas” [96], tác giả của cuốn sách “Phát triển Du lịch bền vững tại các khu bảo tồn”. Các tác giả khẳng định, du lịch đóng góp lớn vào GDP của nền kinh tế mỗi quốc gia. Vì vậy, các quốc gia cần tập trung các phát triển du lịch bền vững.
Trong nội dung nghiên cứu của công trình này, nhóm các tác giả rất chú trọng đến việc phát triển nguồn nhân lực du lịch, nhóm tác giả cho rằng tất cả nhân lực du lịch là xương sống để tham gia vào phát quá trình triển du lịch bền vững và chính họ như là những đại sứ ngoại giao về du lịch đem lại hiệu quả cao của mỗi quốc gia. Vì vậy, cần phải nâng cao kỹ năng trong ứng xử, giao tiếp, khả năng tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ nhân lực ngành du lịch. - Dennis Nickson, “Human Resource Management for the hospitality and tourism industries, London, New York: Routledge” [87]. trong công trình nghiên cứu năm 2007 này, tác giả đã luận giải một số vấn đề lý luận về NNL.
Trong cuốn sách, tác giả nhìn nhận NNL dưới góc độ là NNL xã hội, nghiên cứu tổng thể NNL.K, “Human resource development in the tourism sector in Asia”, Perspective in Asia leisure and tourism, Vol 1, Article? [98]. Tác giả đã xuất bản cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực du lịch ở châu Á”. Tác giả nhiều công nghiên cứu về nhân lực ngành du lịch.