ĐẶT VẤN ĐỀ Y học cổ truyền (Y T) Việt Nam là một di sản quý báu của dân tộc và đã có từ thủa sơ khai của đất nƣớc. Y T Việt Nam là một bộ phận cấu thành của nền văn hóa Việt Nam, đã luôn luôn gắn bó với cộng đồng các dân tộc và thƣờng xuyên gắn liền với cuộc sống của ngƣời dân Việt Nam và đặc biệt Y T đƣợc xác định nhƣ một nhân tố quan trọng giúp cho chiến lƣợc chăm sóc sức khỏe (CSSK) ban đầu thành công. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Y T Việt Nam đã trở thành một nền y học chính thống của dân tộc. óp phần xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng [34].
ánh giá cao những tiềm năng của Y T, ngay từ khi hòa bình lập lại, ảng và Nhà nƣớc đã có những chủ trƣơng chính sách quan trọng về phát triển Y T từ đó hệ thống khám chữa bệnh (KCB) bằng YHCT từ trung ƣơng đến địa phƣơng, từng bƣớc củng cố và phát triển [15]. Năm 2008, an í thƣ Trung ƣơng ảng đã ban hành hỉ thị số 24- T/TW về “Phát triển nền ông y Việt Nam và ội ông y trong tình hình mới” [1]. Thủ tƣớng hính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 2166/Q -TTg về việc “ an hành kế hoạch hành động của hính phủ về phát triển y dƣợc cổ truyền (YDCT) Việt Nam đến năm 2020” [43]. Nhằm phát triển cơ sở hạ tầng cho các BV Y T tuyến tỉnh ngày 11 tháng 3 năm 2014, Thủ tƣớng hính phủ đã ban hành quyết định về việc phê duyệt đề án đầu tƣ xây dựng, nâng cấp hệ thống BV Y T tuyến tỉnh toàn quốc giai đoạn 2014-2025 [46].
Tuy nhiên để đạt đƣợc các mục tiêu mà hính phủ đề ra thì cần đội ngũ các thầy thuốc Y T trong các cơ sở y tế phải đóng vai trò nòng cốt, đủ về số lƣợng, có kiến thức chuyên ngành sâu sắc, có tay nghề giỏi cùng với các thiết bị y tế hiện đại. Mặc dù đã có nhiều chủ trƣơng chính sách của ảng và Nhà nƣớc định hƣớng cho phát triển nền Y T Việt Nam. Tuy nhiên, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ ở nƣớc ta vẫn còn nhiều bất cập và yếu kém hệ thống y tế chậm đổi mới [4]. Sự phát triển của nền đông y Việt Nam và ội đông Y Việt Nam chƣa tƣơng xứng với tiềm năng vốn có, chƣa ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ 3 trong tình hình mới [1].
Trong quá trình phát triển còn nhiều bất cập, trong đó có nguồn nhân lực (NNL) YHCT. Tại ắc Ninh, Tỉnh ủy, UBND tỉnh ắc Ninh đã quan tâm chỉ đạo tới việc phát triển YHCT. Ngày 19 tháng 10 năm 2011 UBND tỉnh ắc Ninh đã ban hành quyết định về việc phê duyệt kế hoạch phát triển Y, ƣợc cổ truyền tỉnh ắc Ninh đến năm 2020 [59]. ể phát triển nền Y T của tỉnh, trƣớc hết cần phải có nguồn nhân lực (NNL) đáp ứng đƣợc nhiệm vụ đặt ra.
Tuy vậy, hệ thống KCB bằng Y T và NNL tại ắc Ninh cũng chƣa đƣợc quan tâm đầu tƣ để phát triển và trên thực tế tại ắc Ninh cho đến nay chƣa có một nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng cũng nhƣ giải pháp phát triển NNL YHCT. âu hỏi nghiên cứu đặt ra là: Thực trạng NNL Y T của tỉnh ắc Ninh năm 2014 nhƣ thế nào? đã có những yếu tố nào ảnh hƣởng đến phát triển NNL? và trên có sở đó cần đề xuất những giải pháp nào để nâng cao chất lƣợng và phát triển NNL Y T tỉnh ắc Ninh trong thời gian tới. Xuất phát từ thực tế trên, để có cơ sở khoa học đề xuất giải pháp phù hợp phát triển NNL YHCT của tỉnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Thực trạng nguồn nhân lực Y học cổ truyền trong các cơ sở y tế công lập tỉnh Bắc Ninh năm 2014 và đề xuất giải pháp giai đoạn 2015 - 2018, với mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực YHCT tỉnh ắc Ninh năm 2014.
Xác định một số yếu tố ảnh hƣởng đến phát triển nguồn nhân lực YHCT trong các cơ sở y tế công lập tỉnh ắc Ninh. ề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực YHCT tỉnh ắc Ninh giai đoạn 2015 - 2018. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về nguồn nhân lực YHCT trong CSSK nhân dân 1.
Khái niệm nguồn nhân lực Nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất của mỗi quốc gia và con ngƣời là nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi hay thất bại của một tổ chức. hính vì vậy, các nƣớc trên thế giới đều rất quan tâm tới việc quản lý NNL [47]. NNL là nguồn lực về con ngƣời, biểu hiện khả năng lao động của xã hội và đƣợc nghiên cứu dƣới nhiều khía cạnh. NNL là toàn bộ những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực là nguồn lực của mỗi con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp [47].
NNL với tƣ cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng (không bị khiếm khuyết hoặc dị tật bẩm sinh). NNL là một yếu tố của sự phát triển xã hội là khả năng lao động của xã hội đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. NNL là tổng hợp những cá nhân những con ngƣời có thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động[32]. NNL đƣợc xem trên góc độ số lƣợng, chất lƣợng: - Số lƣợng nhân lực đƣợc hiểu thông qua các chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng - hất lƣợng NNL đƣợc xem xét trên tất cả các mặt: trình độ sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
+ Ở mỗi phạm vi và qui mô, khái niệm NNL đƣợc định nghĩa một cách khác nhau. Theo Trần Kim ung định nghĩa: “Nguồn nhân lực ở một tổ chức 5 được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định"[32]. Trong xã hội con ngƣời bất cứ ở tổ chức nào cũng đƣợc tạo thành bởi các thành viên là con ngƣời hay NNL của nó mà NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó [5]. ăn cứ vào nguồn gốc hình thành nhân lực mà trong mỗi xã hội có các nhóm nhân lực khác nhau, trong đó có nhân lực y tế.
Nhân lực y tế Theo định nghĩa nhân lực y tế của W O: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những ngƣời tham gia vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”. Nhân lực y tế bao gồm: Ngƣời cung cấp dịch vụ y tế, bao gồm ngƣời công tác trong ngành y tế và các ngành khác (quân đội, trƣờng học, các doanh nghiệp…) [48], [65]. o tính chất liên ngành của ngành y tế nên nguồn lực y tế còn bao gồm cán bộ nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác nhau nhƣ: khoa học cơ bản (hóa học, toán học, lý học.), kinh tế xã hội học, thống kê, tin học, các ngành kỹ thuật nhƣ xây dựng, cơ khí, điện và còn nhiều ngành khác nữa đang tham gia vào phục vụ công tác y tế ở tất cả các tuyến từ trung ƣơng đến cơ sở [12]. Trong NNL y tế cần chú ý cả hai khu vực: Y tế công lập và Y tế tƣ nhân.
Cần phải nhận thức rằng: Phát triển NNL y tế vừa nằm trong tổng thể phát triển hệ thống y tế vừa nằm trong chiến lƣợc phát triển NNL con ngƣời của đất nƣớc. Phát triển NNL y tế phải đi trƣớc nhu cầu xã hội dựa trên những dự báo về nhu cầu cũng nhƣ khả năng tài chính và kỹ thuật cung ứng cho các dịch vụ CSSK cộng đồng[16],[58]. hính vì vậy cần phải phát triển nguồn lực y tế để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng, hiện nay đây đang là một thách thức rất lớn cho các nhà quản lý y tế các cấp[24], [47]. Nhân lực YHCT Nhân lực YHCT là một bộ phận trong đội ngũ nhân lực y tế.
Ở Việt Nam, nhân lực Y T đƣợc đa dạng về loại hình, bao gồm: Tiến sỹ Y T; thạc sỹ; ác sỹ (BS) chuyên khoa Y T; chuyên khoa cấp 1; chuyên khoa cấp 2; y sỹ YHCT; Lƣơng y; Lƣơng dƣợc… 6 Ở Việt Nam, nhân lực YHCT đƣợc sử dụng chủ yếu để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. ác loại nhân lực YHCT nói trên làm việc tại một số lĩnh vực nhƣ: BV, quầy thuốc, quản lý, điều trị ngoại trú và một số công việc liên quan đến sinh hóa và xét nghiệm, công nghiệp dƣợc, nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Nhân lực YHCT Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc trong khu vực có nét tƣơng đồng, đƣợc cấu thành từ hai nguồn chính: - Từ hệ thống các trƣờng đào tạo: Từ tri thức hàn lâm, bao gồm các phƣơng pháp đào tạo, có lý luận, có sách ghi chép một cách hệ thống. - Từ cộng đồng: Từ tri thức bản địa, bao gồm tri thức sử dụng cây thuốc, các phƣơng pháp chữa bệnh đƣợc truyền dạy trong gia đình, dòng tộc hoặc từ cộng đồng bằng truyền miệng [23].
Nền YHCT ở Việt Nam đã có từ lâu. Tuy nhiên, hệ thống Y T đƣợc sử dụng với một tỷ lệ thấp hơn so với hệ thống y học hiện đại (Y ). Thực tế hiện nay, đa số các BV tuyến tỉnh chỉ có khoa Y T, các trung tâm y tế tuyến huyện chỉ có một vài gƣờng bệnh điều trị bằng phƣơng pháp Y T. Ở tuyến Trung ƣơng có BV Y T, có Viện nghiên cứu.
Ở tuyến y tế các tỉnh có BV chuyên khoa YHCT. Ở mỗi vùng miền, sự phát triển Y T ở các mức độ khác nhau, việc sử dụng nhóm nhân lực này vào công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cũng khác nhau. Nhìn chung, nó còn phụ thuộc vào tính phổ biến nguồn dƣợc liệu của mỗi vùng trong cả nƣớc và cũng nhƣ việc đào tạo nhân lực Y T của quốc gia. Ở nƣớc ta, các cây thuốc thảo dƣợc thƣờng tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía ắc, cho nên nhân lực Y T tập trung chủ yếu ở khu vực miền ắc và đội ngũ Lƣơng Y, Lƣơng dƣợc tham gia CSSK nhân dân tản mạn ở các vùng miền núi [59].