phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum trong giai đoạn 2014-2016. Chƣơng 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực tại Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Kon Tum. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu khác nhau về đề tài phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.
Điều này chứng tỏ vấn đề phát triển nguồn nhân lực đang đƣợc quan tâm và chú trọng. Các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực đƣợc thực hiện ở rất nhiều góc độ tiếp cận, ngành nghề và lĩnh vực khác nhau nhƣ: - Nguyễn Thị Anh Đào, “Vấn đề quản trị nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí công nghiệp, tháng 5/2011. Bài viết đề cập đến những thực trạng trong quản trị nguồn nhân lực phổ biến ở các doanh nghiệp Việt Nam và đƣa ra một số ý kiến đánh giá từ đó đề ra giải pháp để nâng cao chất lƣợng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. - "Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty cổ phần Lilama 7”, luận án tiến sỹ Thái Thảo Ngọc, trƣờng Đại học kinh tế quốc dân, 2013.
- Nguyễn Ngọc Mai 2012 “Phát triển nguồn nhân lực tại trƣờng quốc tế Anh –Việt”, đại học Kinh tế quốc dân. - Lê Thị Hồng Điệp (2012), “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo ở một số nƣớc Đông Á: Kinh nghiệm đối với Việt Nam”. - Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình Quản trị nhân lực II /NXB Lao động – Xã hội. - Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình Quản trị nhân lực I / NXB Lao động – Xã hội.
- Nguyễn Tiệp xuất (2009), Giáo trình Nguồn nhân lực, Trƣờng đại học Lao động xã hội/ NXB Lao Động – Xã hội. - Nguyễn Minh Đƣờng – Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới – Chƣơng trình KHCN cấp Nhà nƣớc KX – 07 Đề tài KX – 07 – 14, Hà Nội 1996. Luan van 6 - Cuốn sách “Đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng”- năm 2005- Tác giả: Trần Văn Tùng – NXB Thế giới, Hà Nội. Tác giả đã trình bày những kinh nghiệm trong việc phát hiện, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc.công trình nghiên cứu của tác giả có ý nghĩa thực tiễn to lớn đói với ngƣời ta trong việc phát hiện, đào tạo, sử dụng tài năng khoa học – công nghệ phục vụ công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Muốn làm đƣợc điều đó, thực tiễn đặt ra là Việt Nam cần đổi mới chính sách đào tạo, bồi dƣỡng và sử dụng nguồn tài năng hiện có. - Luận văn thạc sỹ Quản trị nhân lực của Trần Thị Thu Huyền (2013) với đề tài: "Sự cần thiết về hoàn thiện công tác đào tạo nguồn nhân lực Công ty Cổ phần Sông Đà". Bài luận văn đã khái quát hóa đƣợc những vấn đề lý luận về công tác đào tạo nguồn nhân lực, nêu rõ quy trình đào tạo tại công ty. Có thể nói thành công nhất của bài luận là tác giả đã tìm ra đƣợc những bất cập trong công tác đào tạo tại đơn vị thời gian qua.
Đồng thời, phát hiện ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn tới một lƣợng lớn lao động sau khi đƣợc đào tạo lại không làm đúng chuyên môn khiến cho chất lƣợng lao động vẫn thấp, năng suất lao động không cao. Từ đó, tác giả đã đƣa ra đƣợc một số giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo tại đơn vị. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1.
Một số khái niệm a. Nhân lực trong một tổ chức Nhân lực có vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia nói chung, đối với từng doanh nghiệp nói riêng. Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt, đối với mỗi doanh nghiệp thì nhân lực có ảnh hƣởng rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh; nhân lực là yếu tố năng động, tích cực của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh và quyết định sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong khuôn khổ luận văn này, cụm từ “tổ chức” đƣợc hiểu là một công ty, một doanh nghiệp. Tổ chức là sự sắp xếp con ngƣời một cách có hệ thống nhằm thực hiện một mục đích cụ thể nào đó. Chính sự khác biệt về mục đích của mỗi tổ chức dẫn đến sự khác biệt giữa tổ chức này với tổ chức khác. Mỗi tổ chức là một thực thể có mục đích riêng biệt, có nhiều ngƣời và đƣợc xây dựng theo một cấu trúc có hệ thống.
Và, nguồn nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lƣợng nhân lực; nói cách khác là lực lƣợng lao động đƣợc đặc trƣng bởi quy mô, cơ cấu và chất lƣợng của những con ngƣời cụ thể với năng lực tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh ở tổ chức đó. Do vậy, nguồn nhân lực đƣợc nhìn nhận mang tính tiềm năng, không chỉ biểu hiện về số lƣợng, mà còn ở sự cải thiện không ngừng về chất lƣợng và cơ cấu. Quy mô là khái niệm chỉ mức độ ít hay nhiều về mặt số lƣợng; do vậy, có thể đo đếm đƣợc. Đối với một tổ chức, quy mô nguồn nhân lực là số lƣợng Luan van 8 nhân lực tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở một thời kỳ nhất định.
Cơ cấu nguồn nhân lực phản ánh mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể nguồn nhân lực của một tổ chức. Mối quan hệ này bao hàm cả số lƣợng và chất lƣợng, phản ánh tình trạng nguồn nhân lực của tổ chức ở một thời điểm nhất định. Chất lƣợng nguồn nhân lực là một chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quyết định tới nguồn nhân lực và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có năm nhóm yếu tố cơ bản, gắn liền với ngƣời lao động. Cụ thể nhƣ sau: - Sức khỏe (thể lực) - Trình độ văn hóa - Trình độ chuyên môn, kỹ thuật - Kỹ năng làm việc - Nhóm các phẩm chất khác của ngƣời lao động, bao gồm: đạo đức, thái độ, ý thức kỷ luật và tác phong làm việc, khả năng sáng tạo, tính thích ứng,… Trong đó, tác phong làm việc có vai trò đặc biệt quan trọng.
Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn – kỹ thuật phản ánh kiến thức của ngƣời lao động. Kiến thức, cùng với kỹ năng và phẩm chất lao động tạo nên năng lực làm việc và vì vậy, nó quyết định chất lƣợng nguồn nhân lực. Đối với một tổ chức thì năng lực thực hiện công việc ở từng vị trí công tác của lực lƣợng lao động phản ánh chất lƣợng của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực nói chung chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản nhất tác động đến mặt số lƣợng nguồn nhân lực bao gồm: dân số, mức độ phát triển kinh tế và môi trƣờng xã hội.
Các yếu tố tác động đến mặt chất lƣợng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là: sự phát triển kinh tế xã hội, chất lƣợng giáo dục – đào tạo và các chính sách của chính phủ. Trong một tổ chức, nguồn nhân lực còn chịu tác động của công nghệ và trình độ tổ chức, quản lý trong sản xuất kinh doanh. Yếu tố ảnh hƣởng đến chất Luan van 9 lƣợng nguồn nhân lực của một tổ chức gồm: hoạt động phát triển, quản lý và sử dụng nguồn nhân lực; môi trƣờng làm việc; sự tác động của thị trƣờng lao động, trình độ chuyên môn kỹ thuật,… Các yếu tố này tác động theo hƣớng làm chuyển dịch cơ cấu lao động trong tổ chức. Nguồn nhân lực Thuật ngữ nguồn nhân lực (hurman resources) xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có sự thay đổi căn bản về phƣơng thức quản lý, sử dụng con ngƣời trong kinh tế lao động.
Nếu nhƣ trƣớc đây phƣơng thức quản trị nhân viên (personnel management) với các đặc trƣng coi nhân viên là lực lƣợng thừa hành, phụ thuộc, cần khai thác tối đa sức lao động của họ với chi phí tối thiểu thì từ những năm 80 đến nay, với phƣơng thức mới, quản lý nguồn nhân lực (hurman resources management) với tính chất mềm dẻo hơn, linh hoạt hơn, tạo điều kiện tốt hơn để ngƣời lao động có thể phát huy ở mức cao nhất các khả năng tiềm tàng, vốn có của họ thông qua tích lũy tự nhiên trong quá trình lao động, phát triển. Có thể nói, sự xuất hiện của thuật ngữ “nguồn nhân lực” là một trong những biểu hiện cụ thể cho sự thắng thế của phƣơng thức quản lý mới đối với phƣơng thức quản lý cũ trong việc sử dụng nguồn lực con ngƣời. Theo Nicholas Henry thì “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”. Cách hiểu này về nguồn nhân lực cũng xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức.
Ở nƣớc ta, khái niệm nguồn nhân lực đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới đất nƣớc. Luan van 10 “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng” Lại có ý kiến khác cho rằng “Nguồn nhân lực là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định”.