CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1. Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, bất kỳ một doanh nghiệp nào thành công trên thương trường thì yếu tố đầu tiên và quan trọng nhất giúp doanh nghiệp thành công chính là nguồn lực con người trong doanh nghiệp. Nguồn nhân lực hay nguồn lực con người là một vấn đề lớn, đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức quan tâm.
Theo đó, có nhiều định nghĩa về nguồn nhân lực được đưa ra. Ở Việt Nam, theo Bộ Luật Lao động, thì khái niệm nguồn nhân lực đồng nghĩa với nguồn lao động: Nguồn lao động bao gồm toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc (2000) “Nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước Định nghĩa này xuất phát từ đánh giá về những tác động của toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực.
Định nghĩa của Liên Hợp quốc được đánh giá cao khi coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng. Theo Manmohan Joshi (2013): “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những nỗ lực, kỹ năng hay khả năng của tất cả những người làm việc cho tổ chức đó. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của tố chức. Theo quan điểm của Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009) thì nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải, vật chất và tinh thần cho xã hội đươc biểu hiện bởi số lượng và chất lựợng nhất định trong một thời điểm nhất định.
7 Theo Trần Kim Dung (2015): “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với những nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người” [4, tr. Tổ chức ngân hàng thế giới cho rằng NNL là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh hay một hoạt động nào đó. Ở đây NNL được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác nhưng nó có vai trò đặc biệt vì nó được sử dụng để khai thác, duy trì và sử dụng các loại vốn vật chất đó.
(trích dẫn bởi Võ Đại Lược, 2015) Tổ chức lao động quốc tế (ILO-2000) quan niệm nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động rằng nhân lực đồng nghĩa với lực lượng lao động. Quan niệm này cho rằng, nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động con người của một quốc gia đã được chuẩn bị ở một mức độ nhất định, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Tiềm năng đó bao hàm tổng hoà các năng lực về thể lực, trí lực, nhân cách con người của một quốc gia đáp ứng với một cơ cấu nhất định của lao động do nền kinh tế đòi hỏi. Từ những định nghĩa trên, ở dạng tổng quát nhất, có thể hiểu nguồn nhân lực là khái niệm dùng để xác định nguồn sức mạnh tiềm năng của một cá nhân và tập dân cư, khả năng huy động nguồn sức mạnh này tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Nguồn sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Đối với giới hạn nghiên cứu của đề tài này nguồn nhân lực sẽ được giới hạn là nguồn nhân lực trong một tổ chức nhất định và cũng chính là lực lượng lao động trong tổ chức. Nguồn nhân lực cho một tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với các loại nguồn lực khác của tổ chức bởi đây là nguồn lực từ chính bản thân của con người.
Các cá nhân thuộc tổ chức có các năng lực khác nhau, đặc điểm khác nhau và có tiềm năng phát triển khác nhau khi tham gia vào hoạt động của một tổ chức với chức năng, nhiệm vụ được giao. Nhân viên 8 có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của họ. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để tạo ra sự thay đổi về hành vi nghề nghiệp cho người lao động được thực hiện bởi doanh nghiệp. Từ đó chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực,.để họ tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm góp phần làm giàu cho gia đình, đất nước và xã hội.
Trong phạm vi vi mô, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là tổng hợp các biện pháp, bao gồm hoạch định cơ cấu, tuyển dụng, đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực, tạo điều kiện về môi trường làm việc kích thích động cơ, thái độ làm việc của người lao động, nhằm đảm bảo về số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý đáp ứng mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức. Ở góc độ vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt số lượng, mà còn là phát triển cả về mặt chất lượng. Đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân phù hợp với yêu cầu của môi trường, phát triển nguồn nhân lực được xem xét hai mặt chính đó là chất lượng và số lượng. Theo UNESCO, phát triển NNL là làm cho toàn bộ sự lành nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước.
Quan niệm này gắn phát triển NNL với phát triển sản xuất; do đó, phát triển NNL giới hạn trong phạm vi phát triển kỹ năng lao động và thích ứng với yêu cầu về việc làm. Theo ILO (trích dẫn bởi Sriyan de Silva 1997), phát triển NNL là quá trình tăng lên của kiến thức, kỹ năng và năng lực của tất cả mọi người trong xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, nó được mô tả như sự tích lũy của vốn nhân lực. Quan điểm này của ILO cho rằng, phát triển NNL không chỉ là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề bao gồm ngay cả vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân.
Sự lành nghề được hoàn thiện không chỉ nhờ quá trình đào tạo, bồi dưỡng mà còn cả sự tích lũy kinh nghiệm trong cuộc sống và làm việc của người lao động. 9 Theo Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh (2009), phát triển NNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ xã hội, phát triển NNL là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp lý.Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển NNL là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao. Trong thực tiễn kinh tế thị trường cạnh tranh cao và hội nhập sâu rộng thì nguồn nhân lực có chất lượng được coi là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng, các doanh nghiệp sẽ sẵn sàng trả lương cao hơn cho nhân sự có chất lượng cao trong thị trường lao động vì những người lao động này tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Theo quan điểm của nghiên cứu này, phát triển NNL là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách, biện pháp nhằm tạo ra sự thay đổi đáng kể về số lượng và chất lượng NNL (cơ cấu, năng lực và thái độ) đáp ứng mục tiêu chung của tổ chức và nhiệm vụ chiến lược của doanh nghiệp.
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực là một trong những hoạt động quan trọng trong một tổ chức, có vai trò và ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của doanh nghiệp và sự cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, hiện nay doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực dựa trên cách tiếp cận KSA: Knowledge (kiến thức), skills (kỹ năng), attitudes (thái độ) trong các hoạt động đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp những điều sau: - Giúp cho các cá nhân nâng cao được năng suất lao động của mình và từ đó nâng cao năng suất lao động của cả doanh nghiệp, đồng thời cũng nâng cao được hiệu quả công việc của người lao động. - Nâng cao được tính ổn định và năng động của tổ chức, đồng thời giảm bớt được sự giám sát của người lãnh đạo doanh nghiệp vì khả năng đáp ứng tốt yêu cầu công việc của người lao động. - Nâng cao và duy trì chất lượng nguồn nhân lực, tạo điều kiện áp dụng những tiến bộ kĩ thuật mới và những kiến thức về quản lý vào doanh nghiệp, từ đó 10 tạo ra được lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Nội dung phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.