CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NHÂN LỰC Y TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm chính sách và chính sách công Từ mỗi quốc gia nói riêng và các tổ chức quốc tế trên thế giới nói chung, đến các cơ quan tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thì chính sách được xây dựng và triển khai thực hiện ở những giai đoạn khác nhau nhưng mục tiêu chung vẫn là để giải quyết yêu cầu cũng như các hoạt động của từng cơ quan, tổ chức, các chính sách đó chỉ được áp dụng và có hiệu lực trong phạm vị hoạt động của mỗi tổ chức. Mỗi một đảng chính trị, mỗi quốc gia, cơ quan, tổ chức trong nước và các tổ chức quốc tế… đều xây dựng cho mình một chính sách riêng để phục vụ cho hoạt động của từng tổ chức, bộ máy, các chính sách này chỉ có hiệu lực thi hành và dùng để giải quyết công việc của cơ quan, đơn vị, tổ chức đó.
Hiện nay, khái niệm chính sách đã có nhiều tác giả nghiên cứu, sử dụng tuy nhiên vẫn chưa được thống nhất chung. Các nhà nghiên cứu trên thế giới đưa ra một số khái niệm như: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”(James Anderson) hay “Chính sách là quyết tâm và định hướng. Chính sách định hướng nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết hành động” (Glen Milne)…Trong từ điển bách khoa của nước ta đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.TS Vũ Cao Đàm (Viện chính sách và quản lý) định nghĩa về thuật ngữ chính sách: “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, 7 kích thích vào động cơ hoạt động của học, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội”. [15] Thuật ngữ Chính sách được hiểu thông dụng là: "Chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội". Đối với một số nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển hay các tổ chức kinh tế quốc tế thuật ngữ chính sách công được sử dụng rất đa dạng. Ở Việt Nam, thuật ngữ chính sách công được sử dụng ở nhiều góc độ khác nhau, vấn đề lý luận và thực tiễn ở mỗi chính sách công được nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế, đã có nhiều nhà nghiên cứu trong nước đưa ra nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau như: PGS.TS Đỗ Phú Hải “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ để thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền”.
[18] Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị nhằm vạch ra những định hướng hành động ứng xử cơ bản của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc đẩy và quản lý sự phát triển, nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định cho trước. Chính sách công được chủ thể xây dựng nên và biểu hiện dưới nhiều loại văn bản khác nhau như: Luật, Nghị định, Thông tư, Quyết định, Chiến lược, Quy hoạch…Tùy vào Đảng chính trị của mỗi nước sẽ có những hoạch định chính sách riêng, phù hợp với mỗi quốc gia, dân tộc. Trên cơ sở tham khảo những khái niệm trên, ta có thể hiểu: Chính sách công là mục tiêu, phương hướng hành động của Nhà nước ban hành để giải quyết những vấn đề phát sinh ở mỗi giai đoạn nhằm mục đích nâng cao đời sống KT-XH và định hướng phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Tóm lại, có thể hiểu: chính sách là một hệ thống các chủ trương định hướng và kế hoạch, chương trình hành động (biện pháp) của lãnh đạo cơ quan, tổ chức vạch ra để điều hành, triển khai, giải quyết nhiệm vụ thuộc chức năng và phạm 8 vi hoạt động của mình.
Khái niệm nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Trên thế giới thuật ngữ “nguồn nhân lực” được sử dụng rộng rãi vào thế kỷ XX. Đối với nước ta, các nghiên cứu về nguồn nhân lực được nhiều tác giả sử dụng đến ở nhiều phương diện khác nhau, tuy nhiên khái niệm này cũng mới bắt đầu được nghiên cứu mạnh từ những năm 90 trở lại đây. Liên hợp quốc đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực “là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế và tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Quan niệm này cho ta thấy chất lượng nguồn nhân lực là mục tiêu để đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia, dân tộc.Harbison, nguồn nhân lực là “sức lực, kỹ năng, tài năng và tri thức của những người có tiềm năng có thể hoặc được sử dụng trong sản xuất sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ hữu ích”.
Theo quan niệm của Nicholas Henry “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”. Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu thì nguồn nhân lực là nhân tố quan trọng nhất, trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của quốc gia nó đều có khả năng tham gia chi phối mọi hoạt động. Từ những quan niệm trên, trong phạm vi của luận văn nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ CCVCLĐ có trong cơ cấu tổ chức bộ máy của đơn vị, họ làm việc theo chức năng nhiệm vụ, theo vị trí việc làm, theo sự phân công điều hành và theo năng lực, thể lực, trí lực của họ. Với phạm vi đó đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực hiện chính sách phát triển nhân lực từ thực tiễn của một cơ sở khám chữa bệnh của Ngành Y tế.
PTNNL là một thuật ngữ thường xuyên được dùng trong giao tiếp cũng như trong nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, đây là một thuật ngữ với nhiều quan điểm khác nhau chưa có một định nghĩa chung thống nhất. Trong thời đại ngày ngay con người được coi là “vốn quý nhất”, là nguồn lực của sự phát triển 9 kinh tế xã hội của một quốc gia, do đó việc phát triển nguồn nhân lực đang chiếm vị trí hàng đầu trong hệ thống phát triển nguồn lực; chăm lo đầy đủ cho con người là yếu tố đảm bảo chắc chắn ổn định, phồn vinh cho quốc gia. Hiện nay vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về PTNL và PTNNL.
Theo quan niệm của Liên Hợp quốc“phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống”.Với Yoshihara Kunio cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động đầu tư nhằm tạo ra nguồn nhân lực với số lượng và chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”. Từ các quan niệm trên cho thấy PTNNL là phát triển cá thể mỗi con người, bao gồm cả năng lực, trí lực, thể lực, tâm lực nhằm đáp ứng cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Nhân lực là một bộ phận của nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ người lao động trong độ tuổi lao động, có trình độ chuyên môn, tay nghề phù hợp và đang làm việc tại các cơ quan nhà nước, tổ chức, cơ sở chuyên môn-nghề nghiệp xã hội….Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phát triển nhân lực cụ thể cho một đơn vị, cơ quan, tổ chức. Khái niệm chính sách phát triển nhân lực.
Trên cơ sở khái niệm về chính sách và chính sách công, ta có thể hiểu rằng: Chính sách PTNL là công cụ để quản lý nhân lực, là quan điểm, quyết sách, quyết định của Nhà nước bao gồm các mục tiêu, lộ trình và giải pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ nhân lực hợp lý về cơ cấu, số lượng, chất lượng, đảm bảo về năng lực, thể lực, trí lực của các cơ quan, tổ chức.đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đặc điểm ngành y tế và đội ngũ nhân lực y tế Ngành y tế là ngành chăm sóc sức khỏe cho mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là: chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thương tích và suy yếu về thể chất và tinh thần khác ở người. Ngành y tế có đặc điểm sau: 10 + Có chính sách chủ động phòng ngừa bệnh. + Xã hội hóa các hoạt động y tế, chủ yếu thông qua việc thu một phần viện phí, bảo hiểm y tế, cho phép hành nghề tư nhân.
+ Cũng cố mạng lưới y tế cơ sở, đồng thời hiện đại hóa các hoạt động y tế nhằm đạt trình độ kỹ thuật ngang với những nước trong khu vực + Hệ thống y tế rộng khắp từ trung ương đến địa phương. + Đảm bảo tính công bằng trong khám chữa bệnh đối với người nghèo và nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, hải đảo. Nhân lực y tế sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập, các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân. Đặc điểm của đội ngũ nhân lực y tế gồm: + Con người là đối tượng phục vụ của ngành y tế.
+ Nghề y được đào tạo với thời gian dài và nghiêm túc hơn so với các ngành nghề khác.