CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Một số khái niệm Có ý kiến cho rằng: Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực [23]. Tài nguyên nhân lực của một tổ chức là do tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng hành vi ứng xử, giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức.
Tài nguyên nhân lực của các tổ chức có sự khác nhau, là do chính những đặc điểm của các cá nhân trong các tổ chức tạo nên. Những cá nhân của mỗi tổ chức có các năng lực, đặc điểm, tiềm năng phát triển khác nhau, nên cũng tạo ra những tiềm lực khác nhau về nguồn nhân lực cho mỗi tổ chức. Việc đánh giá chính xác giá trị nguồn tài nguyên nhân lực trong một tổ chức có ý nghĩa lớn, bởi vì nó giúp nhà quản trị thực hiện có hiệu quả trong công tác quản trị nguồn nhân lực. Tuy nhiên có ý kiến khác lại cho rằng: Nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất [9].
Nó cũng được xem là sức lao động của con người - một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất của các doanh nghiệp. Nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp. Như vậy có thể suy ra từ các quan điểm trên là nhân lực gồm thể lực và trí lực [23]. Thể lực chỉ sức khỏe thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính.
của mỗi người. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách. của từng người. Từ những quan điểm trên, tác giả chọn cách hiểu khái quát về nhân lực: This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 4 Nhân lực là sức người, là nguồn lực của mỗi con người cụ thể, tức là sức lực.
Sức lực đó của con người ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người. Khi sức đó phát triển đến mức độ cần thiết, con người có thể tham gia vào các hoạt động của xã hội loài người. Tìm hiểu Nguồn nhân lực, tác giả liệt kê một số khái niệm sau đây: - Quan điểm của giáo sư Phạm Minh Hạc: Nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước, hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó [12]. Quan điểm này nhìn nhận nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô, sử dụng tiềm năng lao động trong một không gian lãnh thổ nhất định.
- Theo Tổng cục Thống kê: Nguồn nhân lực xã hội, khi tính toán bao gồm những người ngoài tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Một số quốc gia quan niệm nguồn nhân lực quốc gia là toàn bộ những người ước vào tuổi lao động trở lên, có khả năng lao động. Quan điểm này chỉ nhìn nhân lực là lực lượng lao động ở góc độ phục vụ cho công tác thống kê. - Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội: Nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Đây là quan điểm nhìn nhận ở mức độ khái quát cao các đặc tính của kỹ năng nguồn nhân lực. - Ngân hàng thế giới (World Bank): Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Quan điểm của Ngân hàng thế giới đã lượng hoá phẩm chất cá nhân của người lao động cụ thể. - Theo các tác giả Begg, Fischer và Dornbusch: Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, nó được đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tương lai.
Giống như nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Quan This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 5 điểm này nhấn mạnh trình độ chuyên môn trong lao động sản xuất, đó chỉ là một trong các kỹ năng của người lao động. - Quan điểm của các doanh nghiệp: Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là số người trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương. Theo cơ cấu chức năng, nguồn nhân lực doanh nghiệp chia làm hai loại: Viên chức quản lý và công nhân.
Theo thời gian làm việc, nguồn nhân lực được phân thành lao động hợp đồng không xác định thời hạn; xác định thời hạn và lao động vụ việc. Như vậy, doanh nghiệp nhìn nhận nguồn nhân lực trong phạm vi lực lượng lao động trực tiếp sản xuất cho doanh nghiệp. Như vậy, nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản nhất của mọi tổ chức, của quốc gia [11]. Đặc biệt là trong thời đại kinh tế tri thức ngày nay thì nguồn nhân lực quyết định sự thành bại của các tổ chức.
Đảng ta khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”. Các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, khoa học - kỹ thuật, công nghệ,. dù có bao nhiêu cũng vẫn là hạn hữu, chúng không có sức mạnh tự thân và sẽ cạn kiệt dần trong quá trình khai thác, sử dụng của con người. Hơn thế nữa các nguồn lực này chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực khi được kết hợp với nguồn lực con người, thông qua hoạt động có ý thức của con người.
Tiếp cận theo các quan điểm đó, tác giả hiểu về nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, là tiềm năng lao động của mỗi con người trong một thời gian nhất định. Nguồn nhân lực là động lực nội sinh quan trọng nhất, được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng, trong đó trí tuệ, thể lực và phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp và sự tương tác giữa các cá nhân trong cộng đồng, là tổng thể các tiềm năng lao động của một ngành, một tổ chức, của địa phương hay một quốc gia. Về phát triển nguồn nhân lực có một số quan điểm sau: This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 6 - Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization): Phát triển nguồn nhân lực bên cạnh sự chiếm lĩnh trình độ còn bao hàm luôn cả sự phát triển năng lực làm cho con người có nhu cầu sử dụng năng lực đó để tiến đến có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Như vậy với quan điểm của ILO, nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển trình độ chuyên môn, phát triển năng lực làm việc.
- Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO): Phát triển nguồn nhân lực là một quá trình mở rộng các khả năng tham gia hiệu quả vào phát triển xã hội bao gồm cả năng năng lực sản xuất. Quan điểm này nhìn nhận nguồn nhân lực như là một nhân tố tham gia vào quá trình sản xuất. - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc UNESCO (United Nation Educational Scientific and Cultural Organization) định nghĩa: Phát triển nguồn nhân lực là toàn bộ sự lành nghề của dân cư trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước. Quan điểm của UNESCO tập trung đề cao tay nghề của lực lượng lao động.
- Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc UNIDO (The Untied Nations Industrial Development Organization) định nghĩa: Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của một quốc gia, nó bao gồm mọi khía cạnh về kinh tế, xã hội như nâng cao khả năng cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo nghiên cứu và từ hoạt động thực tiễn. Quan điểm của UNIDO đặt phát triển nguồn nhân lực ở vị trí trung tâm phát triển của các quốc gia. - Theo giáo sư Phạm Minh Hạc: “Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực., làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm chất mới và cả đáp ứng được yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế xã hội, của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [12]. Đây là quan điểm thể hiện các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nguồn nhân lực.
This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 7 - Quan niệm của Đại học kinh tế quốc dân Hà Nội: Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Quan điểm này chủ yếu nhìn nhận việc phát triển nguồn nhân lực ở góc độ đào tạo kỹ năng cho người lao động. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về phát triển nguồn nhân lực, nhưng các khái niệm đó đều có đề cập hoặc hàm chứa các bộ phận: đào tạo và phát triển trong quá trình phát triển nguồn nhân lực: + Đào tạo, là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
+ Phát triển, là quá trình biến đổi, hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao.