Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam Chương 3: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam Luan van 3 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu thực tiễn liên quan đến đề tài phát triển NNL, hiện nay có rất nhiều đề tài đi sâu vào lĩnh vực này cụ thể như: - Luận án tiến sĩ kinh tế của Phan Thủy Chi (2008): “Đào tạo và phát triển NNL trong các trường đại học khối kinh tế của Việt Nam thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế”. Đây là một nghiên cứu khá hệ thống về đào tạo và phát triển NNL ở các trường đại học nhưng giới hạn ở việc khảo sát các tác động thông qua các chương trình hợp tác đào tạo quốc tế. - Bài viết “Công tác đào tạo và phát triển NNL trong công ty nhà nước” của tác giả Ngô Thị Minh Hằng công bố năm 2008 trình bày một nghiên cứu về thực trạng phát triển NNL mà chủ yếu là hoạt động đào tạo ở các doanh nghiệp Nhà nước thông qua khảo sát một số doanh nghiệp ở địa bàn Hà Nội.
Tác giả đã phân tích, đưa ra một số nhận định khái quát về những yếu kém, tồn tại của công tác đào tạo trong các doanh nghiệp này thời gian vừa qua.TS Phạm Thành Nghị: "Nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 2006. Quyển sách đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL như vấn đề vốn con người về phát triển vốn con người; các mô hình quản lý NNL; các yếu tố tác động đến quản lý NNL. Những lý giải của tác giả về những vấn đề trên là rất rõ ràng, mạch lạc và có sức thuyết phục.
Bên cạnh đó, quyển sách còn trình bày những kinh nghiệm quản lý NNL của các nước phát triển như Hoa Kỳ, thụy Điển. các tư liệu này có giá trị tham khảo rất tốt đối với quản lý NNL ở Việt Nam trong quá trình đổi mới. Ngoài ra quyển sách đã có kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL cho phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu, đồng thời cũng đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Luan van 4 NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh; các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi. - TS Vũ Bá Thể trong quyển sách: “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Kinh nghiệm quốc tế và thực tiển Việt Nam”, Nhà xuất bản Lao động - Xã hội, Hà Nội năm 2005.
Tác giả đã khái quát về kinh nghiệm một số nước trong việc phát huy nguồn lực con người để phát triển kinh tế. Đồng thời, nêu lên những thực trạng NNL ở nước ta trong những năm qua đã làm rõ thực trạng số lượng và chất lượng NNL nước ta hiện nay, trong đó tập trung phân tích những ưu điểm, hạn chế và xu hướng phát triển của NNL Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của nước ta; đồng thời từ đó, rút ra những thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân của chúng. Từ đó có những định hướng và những giải pháp phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong thời gian tới. - Luận văn “Đào tạo và Phát triển NNL tại Học viện chính trị - Hành chính khu vực 3” Luận văn thạc sĩ kinh tế năm 2010.
Đại học Quảng Nam – Chế Viết Trung Thu. Luận văn đã làm rõ được những vấn đề cơ bản về Đào tạo và phát triển NNL trong tổ chức. Trên cơ sở phân tích thực trạng những vấn đề về công tác Đào tạo, phát triển NNL tại Học Viện Hành chính khu vực 3, những kết quả đạt được, tìm ra các nguyên nhân để từ đó đã đưa ra các giải pháp có hiệu quả. Điểm nổi bật nhất của đề tài tác giả đã tiến hành lập phiếu điều, khảo sát, xử lý số liệu về việc nhận thức của công chức về công tác đào tạo đối với cán bộ nghiên cứu tại học viện.
- Các quyết định số 445/QĐ-BHXH ngày 06/07/2012 của Bảo hiểm xã hội Việt Nam về Quy hoạch phát triển nhân lực ngành Bảo hiểm xã hội giai đoạn 2011-2020, quyết định số 2550/QĐ-UBND ngày 05/04/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam về Phát triển dịch vụ đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020. Trong đó, một trong những mục tiêu là trở thành trung tâm giáo dục - đào Luan van 5 tạo và khoa học - công nghệ; trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước. - Phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo - Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế Thế giới (2003). Cuốn sách đã giới thiệu các thành tựu đạt được của nhóm nước trong khu vực trong phát triển NNL thông qua giáo dục và đào tạo.
Các chính sách thành công về giáo dục và đào tạo của các nước Đông Á là giải pháp quan trọng trong cung cấp NNL đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa. Đó cũng là bài học cho Việt Nam trong sự nghiệp phát triển NNL. - Bài báo khoa học: “Một số vấn đề về đào tạo và phát triển NNL” của PGS.TS Võ Xuân Tiến trường Đại học Kinh tế, Đại học Quảng Nam. Bài báo này làm sáng tỏ nội dung: NNL là nguồn lực quý giá nhất của các tổ chức, đơn vị là yếu tố quyết định sự thành bại của họ trong tương lai.
Bởi vậy, các tổ chức và đơn vị luôn tìm cách để duy trì và phát triển NNL của mình. Một trong các biện pháp hữu hiệu nhất nhằm thực hiện mục tiêu trên là đào tạo và phát triển NNL. Qua đó, bài báo đã làm rõ các nội dung của phát triển NNL và được tham khảo để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài. - Phát triển NNL - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta do Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm làm chủ biên (1996).
Cuốn sách giới thiệu về kinh nghiệm phát triển NNL ở phạm vi quốc gia, trong đó có chính sách phát triển NNL của một số nước trên thế giới. - Đề tài cấp Nhà nước do TS Lưu Bách Hồ làm chủ nhiệm “Cơ sở khoa học cho chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020” cho thấy NNL nước ta có cơ cấu trẻ nhưng trình độ chuyên môn và nghiệp vụ thấp, tỷ lệ chưa qua đào tạo cao, lực lượng chưa qua đào tạo phân bố không hợp lý theo vùng lãnh thổ, theo cơ cấu ngành nghề. - Các công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp nhất định trong việc cung cấp lý luận về phát triển NNL nói chung và ngành Bảo hiểm xã hội nói Luan van 6 riêng trong phạm vi cả nước. Song đối với tỉnh Quảng Nam chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào về phát triển NNL trong ngành Bảo hiểm xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu “Phát triển NNL ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh Quảng Nam” là một yêu cầu cấp thiết, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với địa phương. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. KHÁI QUÁT VỀNGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệmnguồn nhân lực Nhân lực Nhân lực là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm thể lực, trí lực và nhân cách. Nguồn nhân lực Khái niệm NNL hiện nay không còn xa lạ đối với nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, quan niệm về vấn đề này chưa thống nhất nhưng chúng ta có thể hiểu: NNL là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng về lao động), gồm cả phẩm chất, trình độ chuyên môn, kiến thức, óc sáng tạo, năng lượng, nhiệt huyết và kinh nghiệm sống của con người nhằm đáp ứng cơ cấu kinh - xã hội.
Phát triển nguồn nhân lực Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Là quá trình làm biến đổi số lượng, chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế - xã hội. Phát triển NNL là tiến trình phát triển năng lực con người thông qua các hình thức, phương pháp, chính sách, biện pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng của NNL (trí tuệ, thể chất và phẩm chất tâm lý xã hội), và phát triển Luan van 8 môi trường học tập nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Ý nghĩa phát triển nguồn nhân lực Phát triển NNL có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển nói chung.
Trong tất cả các nguồn lực tham gia vào quá trình sản xuất để tạo ra sự phát triển thì nhân lực, tức là nguồn lực của con người có vai trò quyết định. Vai trò của con người đối với sự phát triển thể hiện ở hai mặt: vừa là động lực vừa là mục tiêu của sự phát triển. Thứ nhất, quá trình phát triển kinh tế xã hội cần phải dựa trên nhiều nguồn lực khác nhau như nhân lực, vật lực, tài lực. song với tư cách là người sản xuất, nhân lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển.
Chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, vì các nguồn lực khác muốn phát huy tác dụng bắt buộc phải thông qua nguồn lực con người. NNL là động lực chính của sự phát triển. Thứ hai, mục tiêu của phát triển kinh tế xã hội chính là để tạo ra tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội, tức là hướng đến mục tiêu phục vụ các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày càng tốt hơn.