Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Cơ sở giáo dục đại học công lập Theo Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, (có hiệu lực 01/07/2019): Cơ sở giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân gồm: Trường đại học, học viện; Đại học vùng, đại học quốc gia (sau đây gọi chung là đại học); Viện nghiên cứu khoa học được phép đào tạo trình độ tiến sĩ [17]. Trường đại học, học viện (sau đây gọi chung là trường đại học) là cơ sở giáo dục đại học, đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật Giáo dục.
Cơ sở giáo dục đại học là cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, hoạt động khoa học và công nghệ, phục vụ cộng đồng. Các trình độ đào tạo của giáo dục đại học gồm: Trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ. Cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu. Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo.
Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo. Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát hiện và 10 Luan van giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tính đến ngày 30/6/2019, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam có 237 trường đại học, học viện (bao gồm 172 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 31 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm [23]. Nhân lực, nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 1.
Nhân lực Nhân lực là sức lực, năng lực nội sinh của con người, nhờ đó mà con người có thể hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đạt đến một mức nào đó con người có thể tham gia vào quá trình lao động. Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực. Thể lực là tình trạng sức khỏe của người lao động biểu hiện ở chiều cao, cân nặng, hình thể, khả năng vận động, không có bệnh tật, có sức làm việc dẻo dai trong một hình thái lao động nghề nghiệp nhất định… Thể lực không khỏe mạnh sẽ hạn chế phát triển trí lực, trí tuệ của người lao động.
Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân. Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội.
Sức khỏe cơ thể là sự phát triển hài hòa của con người cả về thể chất và tinh thần. Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của 11 Luan van mỗi con người. Trí lực là yếu tố quan trọng nhất của nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Trí lực được phản ánh bằng hệ thống các chỉ tiêu về tỷ lệ người lao động có trình độ, học vấn, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ở bậc cao đẳng, đại học, sau đại học và kinh nghiệm, kỹ năng làm việc của người lao động.
Khi đánh giá chất lượng nhân lực, ngoài trí lực, thể lực người ta còn đánh giá tâm lực, tức là đánh giá trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp và trình độ giao tiếp, ứng xử, phối hợp công tác với đối tác trong quá trình làm việc trong nước và quốc tế. Nhân lực của một tổ chức còn gần nghĩa với sức mạnh của lực lượng lao động, sức mạnh của đội ngũ người lao động, sức mạnh của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức… Sức mạnh đó được hợp thành từ sức mạnh tập thể người lao động, từ khả năng lao động của mỗi người. Khả năng lao động của mỗi người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc, bao gồm các nhóm yếu tố: Sức khỏe (nhân trắc, độ lớn và mức độ bền bỉ…), trình độ (kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm…), tâm lý, mức độ cố gắng… Nhân lực của tổ chức là đầu vào độc lập, quyết định chất lượng, chi phí, thời gian của các sản phẩm trung gian, sản phẩm bộ phận và các sản phẩm đầu ra. Chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức là mức độ đáp ứng tốt nhất về nhân lực để duy trì hoạt động của tổ chức, nhằm hoàn thành tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của chính tổ chức đó.
Nguồn nhân lực Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Ngân hàng thế giới cho rằng nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp của mỗi cá nhân. Như vậy ở đây nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… 12 Luan van Theo Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức, năng lực, toàn bộ cuộc sống của con người hiện có, thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng. Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể hóa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Kinh tế phát triển cho rằng: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Theo từ điển thuật ngữ: Nguồn nhân lực xã hội bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm. Như vậy, theo quan điểm này thì những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định như đang đi học… thì không được xếp vào nguồn nhân lực của xã hội. Như vậy, theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận của các nguồn lực, có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội bên cạnh nguồn lực tài chính, vốn, tài nguyên, thiết bị… Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động.
Do đó, nó có thể lượng hóa được là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động và có khả năng lao động, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Nói cách khác, nguồn nhân lực của một tổ chức, một doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở các cá nhân với các vai trò, vị trí được phân công khác nhau, nhưng do yêu cầu hoạt động của tổ chức, của doanh 13 Luan van nghiệp, đã được liên kết lại với nhau để phấn đấu cho một mục tiêu nhất định, nhằm đạt những thành quả do tổ chức, doanh nghiệp đó đề ra. Nguồn nhân lực của một tổ chức là toàn bộ kỹ năng và sức mạnh của con người trong tổ chức đó, có thể huy động để thực hiện những nhiệm vụ của mình. Cho dù các định nghĩa diễn đạt theo các cách khác nhau thì nội hàm của khái niệm nguồn nhân lực là số lượng, chất lượng và cơ cấu của nhân lực.
Số lượng nguồn nhân lực: Tùy thuộc vào yếu tố bên trong tổ chức như quy mô của tổ chức, nhu cầu thực tế đòi hỏi của công việc, chức năng nhiệm vụ của tổ chức; tùy thuộc vào yếu tố bên ngoài tổ chức như gia tăng dân số… Chất lượng nhân lực, là tổng hợp của nhiều yếu tố như trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe… của người lao động. Ngày nay, có thể tóm tắt thành ba yếu tố: Thể lực, trí lực và tâm lực (phẩm chất tâm lý - xã hội). Tất cả nguồn nhân lực đều cần đến cả thể lực, trí lực và tâm lực, chúng có quan hệ hữu cơ với nhau. Tuy nhiên, đối với từng loại lao động, từng loại hình tổ chức đặt ra yêu cầu khác nhau đối với nguồn nhân lực.
Trong các loại hình lao động đơn giản, chất lượng nguồn nhân lực thường cần đến các yếu tố thể lực và kỹ năng lao động. Còn trong các loại hình lao động trừu tượng, nhất là lao động trí óc, cùng với thể lực là điều kiện cần thì trí lực và tâm lực là những yếu tố quyết định chất lượng của nguồn nhân lực. Càng ở những loại lao động đặc thù gắn với các tổ chức mà sản phẩm lao động của họ tác động đến toàn xã hội, như trong lãnh đạo - quản lý, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, không chỉ đòi hỏi trí lực mà càng quan trọng hơn là phẩm chất tâm lý xã hội (tâm lực). Bởi vì, một quyết định của nhà lãnh đạo - quản lý hay truyền bá tri thức, nếu thiếu đạo đức - nhân cách, thì hậu quả rất nghiêm trọng không chỉ đối với hiện tại mà cả tương lai lâu dài, không chỉ với đơn vị, địa phương, mà cả quốc gia dân tộc.