CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHU VỰC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG KHU VỰC HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Mộ t số khái niệm a. Nhân lực T rong thời gian gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về nhân lực.
Những nghiên cứu này đã đưa ra một số khái niệm, định nghĩa về nhân lực khái quát như sau. “Nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả ở mặt tài và mặt đức” [3] “ Nhân lực là sức lực trong mỗi con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động.” [4] “Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực.” [20] “Nhân lực là sức người, về mặt sử dụng trong lao động sản xuất, đồng nghĩa với nhân công.” [25] Như vậy, khái niệm nhân lực được hiểu khá rộng với các mức độ khác nhau, nhưng từ những vấn đề trên tác giả chọn cách hiểu khái quát về nhân lực: Nhân lực là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người, nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất của xã hội. This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.
Nguồn nhân lực Từ nghiên cứu đến lý luận thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội hiện nay của các tổ chức, địa phương cho thấy mặc dù đã có các công nghệ hiện đại, các hệ thống thiết bị tiên tiến, nhưng con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất không thể thay thế được. Trong quá trình nghiên cứu đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực. Theo cách tiếp cận của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của một quốc gia hay một lãnh thổ, một địa phương nhất định đang có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
543-552] Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực, sức mạnh hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của lực lượng con người, mà trước hết, đó là lực lượng lao động đang và sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 553-559] Theo khái niệm kinh tế phổ thông thì nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng của con người về mặt hoạt động kinh tế - xã hội. Trong cách định nghĩa này các đặc điểm cơ bản nhất của khái niệm được làm rõ. Lao động con người hay nhân lực phải bao gồm cả khả năng về thể lực và trí lực của một con người cụ thể trong tổ chức.
Về nguồn nhân lực cũng được hiểu rõ hơn với tính chất tổng hợp của toàn bộ các cá thể người lao động cả ở hiện tại và tương lai trong một tổ chức, địa phương. [14] Nguồn nhân lực là lực lượng lao động với thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng,. hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. 568-577] Nguồn nhân lực là tất cả các thành viên đang tham gia hoạt động cho tổ This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.
5] Như vậy, từ những vấn đề có tính khái quát trên theo tác giả hiểu khái niệm về nguồn nhân lực như sau: “Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định”. Phát triển nguồn nhân lực * Phát triển Là quá trình biến đổi từ đơn giản đến phức tạp, từ hẹp đến rộng, từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao và từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. * Phát triển nguồn nhân lực - Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO (International Labour Organization)): “Phải hiểu phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng tức không chỉ là sự lành nghề của dân cư hoặc bao gồm ngay cả vấn đề đào tạo nói chung (trình độ dân trí, trình độ chuyên môn kỹ thuật) mà còn là phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả, cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Như vậy, theo quan điểm của ILO chỉ tập trung nhấn mạnh phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển trình độ chuyên môn và năng lực làm việc.
- Phát triển nguồn nhân lực theo nghĩa rộng là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Quan điểm này chủ yếu nhìn nhận việc phát triển nguồn nhân lực ở góc độ đào tạo kỹ năng cho người lao động. - Phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp, trình độ quản lý cho người lao động khi xã hội có sự tiến hóa, khoa học kỹ thuật và công nghệ đã có sự tiến bộ. Với quan điểm This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 7 này tác giả quan niệm phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động.
- Phát triển nguồn nhân lực là tạo ra tiềm năng của con người thông qua đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại, chăm sóc sức khỏe về thể lực và tinh thần, khai thác tối đa tiềm năng nhằm kích thích động cơ, thái độ làm việc của con người, để họ mang hết sức mình hoàn thành nhiệm vụ được giao. Với quan điểm này tác giả tập trung phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện hơn, bằng việc tích cực đào tạo, nâng cao động cơ, động lực thúc đẩy người lao động ở khía cạnh nâng cao trình độ chuyên môn cho người lao động. - Phát triển nguồn nhân lực bao gồm các thành tố: đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại nhân lực theo phương châm học suốt đời để phát triển qui mô, điều chỉnh cơ cấu nhân lực cho phù hợp với nhu cầu của xã hội; hình thành và phát triển những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, kỹ năng sống của người lao động. Đây là quan điểm thể hiện các chỉ tiêu cơ bản về phát triển nguồn nhân lực.
T iếp cận từ những quan điểm trên, theo ý kiến tác giả thì phát triển nguồn nhân lực được hiểu “ là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực về các mặt: nâng cao năng lực và động lực thúc đẩy của người lao động đáp ứng yêu cầu của tổ chức, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân”. Nguồn nhân lực trong khu vực hành chính Nhà nước a. Cơ quan hành chính Nhà nước Hiện nay, vẫn còn có nhiều khái niệm khác nhau về cơ quan hành chính Nhà nước, nhưng có thể thống nhất các tiêu chí cơ bản để xác định cơ quan hành chính Nhà nước. Đó là cơ quan trong hệ thống hành chính Nhà nước, do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thành lập theo trình tự luật định; có chức This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 8 năng hay thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân (trụ sở, con dấu, kinh phí).
Như UBND do Hội đồng nhân dân (HĐND) bầu là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính Nhà nước từ Trung ương tới cơ sở. Đặc trưng quan trọng của cơ quan hành chính Nhà nước nó là tổ chức mang tính quyền lực nhà nước, hoạt động thường xuyên, liên tục, hàng ngày và tương đối ổn định, được thiết lập theo định chế tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cơ sở, chịu sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất là Chính phủ. Trong tổ chức hoạt động của mình, bộ máy hành chính Nhà nước phải luôn tuân thủ hoạt động của mình, bộ máy hành chính Nhà nước luôn phải tuân thủ tính thứ bậc chặt chẽ và thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, theo nguyên tắc cấp dưới phục tùng cấp trên.
Cơ quan hành chính Nhà nước và CBCC của nó hoạt động trong phạm vi thẩm quyền được giao nhưng đồng thời giữa chúng có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, tạo thành một hệ thống thống nhất. Mỗi cơ quan vừa có quan hệ theo hàng dọc với cơ quan cấp trên, cơ quan cấp dưới, vừa có quan hệ theo hàng ngang với cơ quan cùng cấp và có quan hệ phối hợp với các cơ quan khác. Cán bộ, công chức hành chính Nhà nước Khái niệm CBCC từ lâu đã được thiết lập ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tùy theo chế độ chính trị, cách thức tổ chức nhà nước, đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa mà mỗi quốc gia có sự xác định và định nghĩa This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 9 khác nhau về cán bộ, công chức.