CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH 1. Một số khái niệm a. Nhân lực Theo Giáo sư Phạm Minh Hạc, nhân lực là sức lực trong mỗi con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động [5]. Một khái niệm khác, nhân lực là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực [18]. Thể lực chỉ sức khỏe thân thể, nó phụ thuộc vào tầm vóc, tình trạng sức khỏe, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… của mỗi người. Trí lực chỉ khả năng suy nghĩ, sự hiểu biết, khả năng tiếp thu, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của mỗi người.
Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến, nhân lực chỉ là sức người, bao hàm cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, cả ở mặt tài và mặt đức [21]. Sức mạnh vật chất được tạo ra thông qua hoạt động lao động của con người tác động vào tự nhiên nhằm cải biến tự nhiên để phục vụ cho nhu cầu bản thân và xã hội, đồng thời cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con người. Sức mạnh tinh thần chính là trí lực trong mỗi con người. Từ những khái niệm trên, tác giả quan niệm về nhân lực như sau: 8 Nhân lực là nguồn lực của con người bao gồm: thể lực, trí lực và nhân cách con người, nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của quá trình lao động sản xuất của xã hội [23].
Nguồn nhân lực Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu cụ thể mà người ta có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Sau đây là một số quan niệm về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, nơi phát sinh ra nguồn lực, thì nguồn nhân lực nằm ngay trong bản thân con người, đó là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn nhân lực với nguồn lực khác.
Thứ hai, với tư cách là nguồn lực của quá trình phát triển, thì nguồn nhân lực là nguồn lực của con người là khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội, được biểu hiện ra ở số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định… Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng hàm ý rộng hơn [3]. Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến, nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định [23]. Theo Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Phạm Minh Hạc, nguồn nhân lực cần phải hiểu là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó [5]. Có thể nói nguồn nhân lực là nguồn lực căn bản nhất của mỗi địa phương và mỗi quốc gia.
Đối với mỗi địa phương thì cơ cấu, chất lượng 9 nguồn nhân lực là nhân tố quyết định cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tác giả quan niệm về nguồn nhân lực như sau: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) gồm: thể lực, trí lực và nhân cách con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định [23]. Nguồn nhân lực hành chính Nguồn nhân lực hành chính bao gồm những lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động hành chính công ở các cơ quan hành chính nhà nước và có thu nhập từ hoạt động đó. Để hiểu được cơ quan hành chính nhà nước trước tiên ta tìm hiểu về cơ quan nhà nước: Cơ quan nhà nước là một tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định, được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước.
Cơ quan hành chính nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước trực thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, có phương diện hoạt động chủ yếu là hoạt động chấp hành - điều hành, có cơ cấu tổ chức và phạm vi thẩm quyền do pháp luật quy định. Một trong những đặc điểm của cơ quan hành chính nhà nước là được sử dụng quyền lực nhà nước, có quyền nhân danh nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý với mục địch hướng tới lợi ích công. 10 Cơ quan hành chính nhà nước được tổ chức theo các ngành và các cấp từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ. Nguồn nhân lực chính trong cơ quan hành chính nhà nước là đội ngũ cán bộ, công chức được hình thành từ tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc bầu cử.
Theo quy định tại Luật CBCC năm 2008, nguồn nhân lực hành chính cấp xã là những người gồm có: Cán bộ hành chính cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Ủy ban nhân dân xã như: Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND. Công chức hành chính cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, gồm các chức danh như: Trưởng công an xã, Chỉ huy trưởng quân sự, Văn phòng - Thống Kê, Địa chính - Xây dựng - Đô thị và Môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (đối với xã), Tài chính - Kế toán, Tư pháp - Hộ tịch, Văn hóa - Xã hội. Tác giả quan niệm nguồn nhân lực hành chính như sau: Nguồn nhân lực hành chính là tổng thể các tiềm năng lao động (thể lực, trí lực và nhân cách) của những con người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước. Phát triển nguồn nhân lực Có quan niệm cho rằng: phát triển nguồn nhân lực là trên bình diện xã hội chỉ là quá trình phát triển nguồn nhân lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn con người - vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt động kinh tế xã hội.
Xét về các nhân, phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao sức khỏe, 11 trí tuệ, đạo đức, năng lực chuyên môn lành nghề, kỹ năng thực hành để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống [17]. Quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): phát triển nguồn nhân lực bao hàm một phạm vi rộng lớn hơn chứ không phải chỉ có sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hoặc ngay cả việc đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực đó của con người để tiến tới có việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Võ Xuân Tiến, phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực, nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân [23]. Từ những quan niệm trên, tác giả quan niệm về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực hành chính như sau: Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách, biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cá nhân [23].
Phát triển nguồn nhân lực hành chính là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực hành chính nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực hành chính cho sự phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển, đồng thời đảm bảo sự phát triển của mỗi cán bộ, công chức. Ý nghĩa của việc phát triển nguồn nhân lực hành chính a. Đối với cán bộ, công chức - Giúp cho cán bộ, công chức nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp thể theo kịp sự phát triển của khoa học kỷ thuật; 12 - Có cách nhìn, tư duy mới trong công việc; - Có cơ hội thăng tiến, khẳng định mình trong địa vị xã hội, tăng động lực làm việc cũng như niềm tự hào bản thân, gắn bó với nghề nghiệp. - Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, tăng ý chí phấn đấu và nỗ lực cho nghề nghiệp hơn.
Đối với cơ quan hành chính - Nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan. - Việc điều hành cơ quan được thuận lợi hơn. - Tạo sự gắn bó giữa cơ quan và người lao động - Tăng niềm tin của người dân đối với cơ quan. Đối với địa phương Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cần nhiều nguồn lực khác nhau nhưng nguồn lực con người là nguồn lực tiên quyết nhất, có tính chất quyết định, là động lực cho sự phát triển.
Phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương: - Phát triển nguồn nhân lực giúp sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực khác trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. - Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững. - Thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội ngày càng hiệu quả. Đặc điểm của nguồn nhân lực hành chính cấp xã a.