CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến giáo dục đại học Giáo dục đại học có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong những năm qua, các nghiên cứu liên quan đến GDĐH đã được nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện và được công bố dưới nhiều hình thức khác nhau.
Trong tác phẩm “Self-Study processes: A guide to self-evaluation in higher education (Các tiến trình tự học: Hướng dẫn tự đánh giá trong giáo dục đại học)”, Phoenix, AZ: Oryx Press, tác giả Kells, H. Các nội dung trong cuốn sách mô tả cụ thể các bước và hướng dẫn cách thức thiết kế, xây dựng một chương trình tự đánh giá trong GDĐH phù hợp với điều kiện của tổ chức GDĐH. Báo cáo “Greater Expectations: A New Vision for Learning as Nation Goes to College-National Panel Report (Kỳ vọng lớn: Tầm nhìn mới về học tập khi tiếp cận báo cáo của Hội đồng giáo dục đại học quốc gia)” (2002) của American Association of Colleges and Universities đã tóm tắt những nội dung và nguyên tắc cho việc tổ chức GDĐH trong tương lai cần được hướng tới của hệ thống GDĐH [117]. Tài liệu “Characteristics of excellence in higher education (Những đặc trưng tốt của giáo dục đại học)”, Philadelphia, PA, Middle States Commission on Higher Education (2002) cũng đã làm rõ những vấn đề cơ bản và hiện đại trong xác định đặc trưng, vai trò, ý nghĩa của GDĐH trong xã hội hiện đại [127].
Southeast Asian Ministers of Education Organization (2003) trong tác phẩm “Framework for regional quality assurance cooperation in higher education (Khuôn khổ hợp tác đảm bảo chất lượng giáo dục đại học khu vực)” đã đề cập tới khía cạnh quản lý, hợp tác giữa các chủ thể và phạm vi khác nhau trong bảo đảm 11 chất lượng GDĐH. Với một chiến lược dài hạn, kinh phí cho GDĐH có thể đến từ các nguồn khác nhau, như các công ty, tổ chức nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, tổ chức tôn giáo, nhà từ thiện. Nguồn kinh phí dồi dào mang lại cho các trường khả năng xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, thuê giảng viên giỏi cũng như xây dựng quỹ hỗ trợ sinh viên [132]. Đứng trước bối cảnh của quá trình toàn cầu hóa và sự bùng nổ của tri thức, các trường đại học ở Hoa Kỳ, một quốc gia được xem như có hệ thống đại học tiên tiến nhất thế giới cũng đứng trước những khủng hoảng.
Hệ thống giáo dục bậc cao đã và đang có những thay đổi to lớn để thích ứng với môi trường mới. Ngân hàng thế giới World Bank trong báo cáo “Việt Nam: Giáo dục đại học và kỹ năng cho tăng trưởng” (2008) đã phân tích những vấn đề từ thực tiễn GDĐH ở Việt Nam dưới góc nhìn quốc tế. Báo cáo đã chỉ ra những bất cập, hạn chế của GDĐH Việt Nam hiện nay trong mối tương quan so sánh trên nhiều số liệu về GDĐH của các quốc gia trên thế giới gắn với những thiếu hụt về kỹ năng của NNL. Đồng thời, báo cáo đã chỉ ra mối quan hệ của trình độ NNL với mức thu nhập của họ và làm rõ lợi ích mà NNL có trình độ kỹ năng cao có thể đem lại trong chiến lược chung về phát triển kinh tế.
Trên cơ sở đó, báo cáo đưa ra những khuyến nghị quan trọng để phát triển GDĐH hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế quốc gia [98]. Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu trong nước về lĩnh vực này cũng rất phong phú, bao gồm các nhóm công trình sau: Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về giáo dục đại học Việt Nam trong xu hướng cải cách giáo dục. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI. Tác giả cuốn sách đã giới thiệu chung về lịch sử văn hóa Việt Nam, bối cảnh môi 12 trường thế kỷ XXI, tính chất và nguyên lý của nền giáo dục, hệ thống giáo dục Việt Nam hiện nay, vấn đề cải cách giáo dục, các cấp giáo dục ở Việt Nam [74].
Trong phần GDĐH, tác giả đã giới thiệu lịch sử, mục tiêu, nội dung, phương pháp, mạng lưới các trường đại học, cao đẳng hiện nay, nội dung quản lý sinh viên và quản lý sau đại học, vấn đề tổ chức quản lý NNL và phương hướng phát triển giáo dục ở nước ta. Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2002) với cuốn “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” đã chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với sự phát triển của xã hội, đồng thời làm rõ đặc điểm, thực trạng và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó khẳng định sự cần thiết phải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnh của nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp như: nâng cao nhận thức của toàn xã hội về sự cần thiết phải phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới; cải cách hệ thống GD&ĐT nhằm tạo nguồn cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ; tạo động lực thúc đẩy quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh thúc đẩy sự phát triển cao và bền vững của nguồn lực trí tuệ Việt Nam [90]. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004), Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai: Vấn đề và giải pháp.
Các tác giả đã giới thiệu tổng quan tình hình chung của giáo dục Việt Nam hiện nay và chỉ ra những bất cập, hạn chế của hệ thống giáo dục, trong đó có GDĐH trước yêu cầu của xã hội và thế giới. Từ đó, các tác giả đưa ra một số giải pháp cơ bản đề hoàn thiện hệ thống giáo dục nhằm đáp ứng xu hướng hội nhập [53]. Đối với việc tiếp cận với các xu hướng cải cách giáo dục, tác phẩm “Kinh nghiệm một số nước về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2010) đã phân tích chính sách phát triển GD&ĐT, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức của các nước Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Công trình nghiên cứu này đã làm rõ vai trò của đội ngũ trí thức đối với sự phát triển của đất nước, đã phân tích những kinh nghiệm phát triển giáo dục đào tạo gắn với xây dựng đội ngũ trí thức phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Đặc biệt, tác phẩm 13 đã phân tích một số bài học kinh nghiệm nhằm xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam: Nhà nước đóng vai trò quyết định nhất tới việc phát triển đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ; cần đưa việc phát hiện và bồi dưỡng, thu hút và sử dụng nhân tài thành một chiến lược hết sức quan trọng trong thời kỳ CNH, HĐH; cần thiết lập môi trường khoa học thuận lợi cho việc phát hiện, đào tạo, phát triển và trọng dụng nhân tài, tạo thuận lợi cho tự do tư duy, tự do sáng tạo của trí thức [100]. Tác giả Hàn Viết Thuận (2014) trong báo cáo khoa học “Đổi mới nền giáo dục đại học Việt Nam hướng đến sự phát triển của nền kinh tế tri thức” đã phân tích vai trò của GDĐH trong nền kinh tế tri thức thông qua việc đào tạo một lực lượng lao động có thể tiếp thu các kỹ thuật mới, có khả năng thúc đẩy sáng tạo và phát triển công nghệ. Trong điều kiện hạn hẹp về ngân sách, không thể giải quyết tất cả mọi vấn đề trong cùng một lúc, tác giả đã đề xuất tập trung vào một trong những “mũi nhọn” có tính đột phá là hội nhập quốc tế, con đường ngắn nhất để các trường đại học Việt Nam tiếp cận được với trình độ của các trường đại học có uy tín trên thế giới bằng con đường chuyển giao công nghệ giáo dục [107]. Thứ hai, các công trình nghiên cứu về chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục đại học.
Tác giả Nguyễn Đức Chính (2000) trong đề tài khoa học độc lập cấp nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học Việt Nam”, đã phân tích thực tiễn công tác đánh giá giảng viên của các trường đại học trên thế giới và Việt Nam bao gồm hệ thống tiêu chí đánh giá và phương pháp đánh giá giảng viên. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất bộ tiêu chí đánh giá năng lực giảng dạy của GVĐH. Về phía Nhà nước, trước hết, cần có chính sách về chất lượng đối với GDĐH Việt Nam [58]. Chính sách này thực chất là một tuyên ngôn về chất lượng nhằm tạo động lực cho các trường không ngừng phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH.
Tiếp đến là sớm hình thành một tổ chức chuyên trách về bảo đảm và đánh giá chất lượng đào tạo, có thể của Bộ GD&ĐT, của Chính phủ hay của Hội đồng Quốc gia về giáo dục. Thứ ba, cần có bộ công cụ và quy trình để thực hiện. Hệ thống bảo đảm chất lượng buộc các trường phải luôn có ý thức xây dựng điều kiện bảo đảm chất lượng, đồng thời 14 nhằm tạo điều kiện để các trường hội nhập với nền giáo dục thế giới. Trong cuốn “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”, tác giả Nguyễn Đức Chính (2005) đã chỉ ra sự cần thiết của thực hiện kiểm định chất lượng GDĐH, cơ sở nâng cao tính trách nhiệm trong quản lý chất lượng GDĐH, cơ sở lý luận khoa học về đánh giá và kiểm định chất lượng GDĐH.
Tác giả cũng đã giới thiệu bộ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng, đưa ra một số hướng dẫn kiểm định chất lượng dùng cho các trường đại học ở Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích và đánh giá mức độ thực hiện kiểm định chất lượng GDĐH ở Việt Nam và đưa ra một số đề xuất đổi mới công tác kiểm định chất lượng GDĐH [57]. Các tác giả Nguyễn Phương Nga và Nguyễn Quý Thanh (2009) trong cuốn sách "Giáo dục đại học: Một số thành tố của chất lượng" đã giới thiệu các nội dung của quá trình đào tạo từ những yếu tố đầu vào cho đến những yếu tố bảo đảm chất lượng bên trong các trường đại học.