phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng 8 tiết 10 CHƢƠNG 1 CƠ Ở L LUẬN VỀ NGUỒN NH N LỰC CHẤT LƢỢNG CAO CỦA NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI 1. QUAN NIỆM VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CLC 1. Quan niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực và nguồn nhân lực CLC là vấn đề cốt l i trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế không thể đảo ngƣợc. Vì vậy, nhiều quốc gia đã quan tâm, chú trọng xây dựng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực CLC.
Cho đến nay, khái niệm nguồn nhân lực đang đƣợc quan niệm theo nhiều cách khác nhau. Thứ nhất: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con ngƣời của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một địa phƣơng, có khả năng huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực nhƣ một bộ phận cấu thành các nguồn lực của một quốc gia (nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực văn hóa, nguồn lực khoa học công nghệ. Những nguồn lực này có thể huy động một cách tối ƣu, tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội [35, tr.
Thứ hai: Nguồn nhân lực là tổng hòa trong thể thống nhất hữu cơ năng lực xã hội của con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách và tính năng động của xã hội của con ngƣời. Tính thống nhất đó đƣợc thể hiện ở quá trình biến nguồn lực con ngƣời thành nguồn vốn con ngƣời [25, tr. Thứ ba: Nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên giác độ số lƣợng và chất lƣợng. Số lƣợng nguồn nhân lực đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu, quy mô và tốc độ tăng dân số.
Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc nghiên cứu trên các khía cạnh tiêu chí về sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất. Ở Việt Nam, nguồn nhân lực đƣợc quan niệm là tổng thể các tiềm năng lao 11 động của quốc gia hay một địa phƣơng, tức là nguồn lao động đƣợc chuẩn bị sẵn sàng tham gia một công việc nào đó, tức là những ngƣời lao động có kỹ năng, bằng con đƣờng đáp ứng đƣợc yêu cầu của chuyển đỏi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng CNH-HĐH. Với cách quan niệm đó, nguồn nhân lực – tức là nguồn lao động gồm những ngƣời đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm (gồm cả những ngƣời trên tuổi lao động, thực tế đang làm việc) và những ngƣời trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhƣng chƣa làm việc do những nguyên nhân nhƣ đang đi học, đang thất nghiệp, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, hoặc không có nhu cầu làm việc. Từ những các quan niệm đã phân tích ở trên, có thể hiểu định nghĩa: nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động của xã hội và tổng thể những tiềm năng lao động của xã hội trong thể thống nhất hữu cơ các năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách, tính năng động xã hội của con người.) nhằm đáp ứng yêu cầu toàn diện của đất nước.
Nguồn nhân lực chính là nguồn tài nguyên quan trọng và cơ bản nhất của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển. Phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình phát huy nhân tố con ngƣời, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, làm gia tăng toàn diện giá trị con ngƣời trên các mặt thể lực, trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh chính trị, năng lực sáng tạo… Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực CLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói đến chất lƣợng nguồn nhân lực là muốn nói đến tổng thể nguồn nhân lực của một quốc gia, trong đó nguồn nhân lực CLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, với tính cách là nhóm tinh túy nhất, có CLC nhất. Bởi vậy, khi nghiên cứu về nguồn nhân lực CLC, chúng ta không thể không đặt nó trong mối quan hệ với tổng thể nguồn nhân lực.
Quan niệm về nguồn nhân lực CLC Lịch sử nhân loại nói chung và Việt Nam nói riêng đã chứng minh, nguồn nhân lực CLC có vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội về mọi mặt. Bởi vậy, mỗi quốc gia đều quan tâm phát triển nguồn nhân lực này nhằm mục tiêu 12 cho sự phát triển toàn diện đất nƣớc. Quan niệm về nguồn nhân lực có sự biến đổi qua từng thời kỳ lịch sử.Mác, thuật ngữ nguồn nhân lực CLC chƣa đƣợc sử dụng, song C.Mác đã từng bàn đến yêu cầu xây dựng xã hội mới phải có: “những con ngƣời có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông và nắm bắt nhanh chóng toàn bộ hệ thống sản xuất thực ti n” [6, tr.Lênin thì chỉ r : lực lƣợng nòng cốt của nguồn lực là giai cấp công nhân với tính cách là “lực lƣợng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại” [33, tr. Nguồn nhân lực này là sản phẩm và cũng là chủ thể của nền hiện đại hóa công nghiệp.
Họ trục tiếp sản xuất ra của cải vật chất, trực tiếp đƣa khoa học ứng dụng vào sản xuất. Trong phƣơng thức sản xuất công nghiệp, giai cấp công nhân là những ngƣời có trình độ lao động cao, có kỷ luật chặt chẽ và tinh thần cách mạng triệt để nhất. Đồng thời, bên cạnh đó V.Lênin đã bàn đến vai trò của tầng lớp tri thức, những chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, là những ngƣời đi dầu trong việc nghiên cứu, sang tạo, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Họ chính là những ngƣời khái quát, tổng kết, đúc rút tri thức của nhân loại từ thực ti n.
Ngƣời chỉ r : nếu không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và có kinh nghiệm, thì không thể nào chuyển lên CNXH đƣợc.Lênin đã yêu cầu chính quyền Xô Viết tập trung quan điểm nhấn mạnh vào việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lƣợng là giai cấp công nhân và tầng lớp tri thức, để có thể xây dựng nƣớc Nga đi theo con đƣờng XHCN, con đƣờng mà V.Lê nin và Đảng Cộng sản Nga đã lựa chọn. Quán triệt sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh vai trò của giai cấp công nhân “là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là chủ lực sản xuất kinh tế”. Đề cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân “là giai cấp lãnh đạo cách mạng, là chủ lực sản xuất kinh tế”. Đề cao vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong tiến trình cách mạng, Hồ Chí Minh rất coi trọng đào tạo, bồi dƣỡng, phát triển con ngƣời, trong đó đặc biệt chú trọng đào 13 tạo, bồi dƣỡng nhằm phát triển lớn mạnh giai cấp công nhân, đội ngũ tri thức cho việc xây dựng xã hội mới.
Đó là những ngƣời vừa có đức, vừa có tài, vừa hồng vừa chuyên. Hai mặt đạo đức và tài năng của con ngƣời luôn hòa quyện với nhau trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh. Do đó, trong sự nghiệp “trồng ngƣời”, Hồ Chí Minh luôn bắt đầu từ việc xây dựng nền tảng giáo dục đạo đức cho con ngƣời. Ngƣời kh ng định: ngƣời cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo đƣợc nhân dân.
Vì vậy, Ngƣời đòi hỏi tất cả mọi ngƣời không trừ một ai, không trừ một cấp nào phải thƣờng xuyên trau dồi đạo đức cách mạng. Hồ Chí Minh rất coi trọng đạo đức, coi đạo đức là gốc, là nền tảng của con ngƣời, song, Ngƣời cũng rất coi trọng tài năng. Hồ Chí Minh luôn giữ quan điểm, thái độ tôn trọng, đón mời, ƣu đãi và trao thực chức, thực quyền cho những ngƣời có tài năng, đức độ. Trong cạch mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chính là ngƣời đi đầu trong việc trọng đãi, sử dụng ngƣời tài (nhân lực CLC).
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về con ngƣời, về chiến lƣợc “trồng ngƣời”, phát huy nhân tố con ngƣời chính là sự kết tinh những giá trị cao đẹp của truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại và đỉnh cao tƣ tƣởng của thời địa là chủ nghĩa Mác – Lê nin và chủ nghĩa nhân đạo cộng sản. Ngày nay, tƣ tƣởng của Ngƣời vẫn có giá trị lý luận và thực ti n lớn lao, đang tiếp tục soi đƣờng cho Đảng và Nhà nƣớc ta ban hành chủ trƣơng, đƣờng lối, xây dựng, hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực CLC phục vụ yêu cầu của công cuộc đổi mới và sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nƣớc. Ở nƣớc ta, cho đến nay, thuật ngữ nguồn nhân lực CLC chƣa xuất hiện trong từ điển Bách Khoa Việt Nam cũng nhƣ các từ điển tiếng Việt, hay các từ điển khác, mặc dù trong thực tế nó đƣợc dùng khá phổ biến. Có thể kể đến những quan niệm cơ bản về nguồn nhân lực CLC đang đƣợc sử dụng hiện nay nhƣ: - Nguồn nhân lực CLC là đội ngũ những ngƣời có trình độ và năng lực cao, là lực lƣợng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có 14 kết quả việc ứng dụng vào điều kiện nƣớc ta, là hạt nhân đƣa lĩnh vực của mình đi vào CNH, HĐH đƣợc mở rộng theo kiểu “vết dầu loang” bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh [1, tr.
- Nguồn nhân lực CLC là lực lƣợng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất. Phẩm chất của nguồn lực này là tổng hợp những năng lực đặc biệt, phẩm chất ƣu tú tạo thành sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể ngƣời trong hành động. Sức mạnh này bắt nguồn trƣớc hết từ những năng lực phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể và nó đƣợc nhân lên trong hoạt động thực ti n. - Nguồn nhân lực CLC là những con ngƣời có trình độ chuyên môn cao, vốn tri thức và tay nghề giỏi, khả năng nhận thức và tiếp thu nhanh những kiến thức mới.
Đây là chìa khóa chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên con đƣờng phát triển chống nguy cơ tụt hậu.