CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG CÓ TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT CAO 1. Tầm quan trọng của lực lượng lao động có trình dodọ chuyên môn kỹ thuật cao. Nền kinh tế nước ta hiện nay đang trong giai đoạn tiếp tục đổi mới phát triển một bước công nghiệp hoá và hiện đại hoá, mở cửa và đang phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Chúng ta đã là thành viên chính thức của ASEAN, dang cùng thế giới bước vào thế kỷ 21 trong xu hướng ngày càng khu vực hoá, quốc tế hoá.
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên vi tính, điện tử, thông tin, sinh học, hoá học, vật lý siêu dẫn. làm cơ sở phát triển. Chúng ta phải nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt khoa học công nghệ hiện đại, trước hết là những khâu quyết định để khỏi bị tụt hậu, phải tạo ra nguồn cung lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao cần thiết và đủ cho những mũi nhọn đã được lựa chọn, những ngành công nghiệp với công nghệ cao. Phải tạo nội lực mạnh mẽ để hoàn nhập với các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế.
Thông qua hoà nhập mà làm cho nội lực thêm mạnh, bảo đảm sự phát triển đi lên theo đúng quy luật. Nội lực đó chính là con người, là nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Bởi vì chúng ta đã biết con người là nhân tố quyết định, là động lực to lớn nhất, là chủ thể sáng tạo mọi nguồn của cải vật chất và tinh thần của xã hội. Vì vậy, nếu phát huy cao độ nhân tố con người thì sẽ tạo nên một đất nước luôn phồn vinh giàu có.
Khi đã đánh giá vai trò của con người chúng ta coi con người là vốn quý nhất thì người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao lại là vốn quý nhất của những vốn quý nhất. Đó là chân lý phổ biến xưa kia cũng vậy, ngày nay cũng vậy và sau này cũng vậy. 8 Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao không chỉ là vốn quý của bản thân người đó mà còn là vốn quý của đơn vị sử dụng, của dân tộc, của quốc gia. Lao động có trình độ chuyê môn kỹ thuật cao là lực lượng sản xuất, là động lực quan trọng của sự phát triển kinh tế xã hội, xây dựng bảo vệ tổ quốc, là quân chủ lực thực hiện các quốc sách hàng đầu, là xúc tác nâng cao tiềm lực về mặt bằng trí tuệ của các tầng lớp nhân dân.
Một tấm bia ở Văn Miếu ta đã khắc "Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chỉnh thể. Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước ta tăng tiến mạnh mẽ, phồn vinh. Khi yếu tố này yếu kém thì quyền lực đất nước bị suy giảm. những người tài giỏi là một sức mạnh quan trọng đối với một đất nước".
Nếu nhìn ra thế giới, chúng ta sẽ thấy được vai trò của người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao lớn lao như thế nào, nó luôn là động lực hàng đầu trong quá trình tăng trưởng và hiện đại hoá nền kinh tế. Không có đất nước nào phát triển mà không cần đến đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động này tỷ lệ thuận với sự phồn vinh, giàu có của mỗi đất nước. Vì vậy nó là trung tâm của sự quan tâm chú ý, là nguồn tài nguyên quý giá nhất mà tất cả các quốc gia cần phải khai thác.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Một số khái niệm có liên quan và đặc trưng của nó. Thị trường lao động. Thị trường theo nghĩa hẹp là nơi tiếp xúc giữa người bán và người mua, là tổng hợp các sự thoả thuận thông qua đó người bán và người mua trao đổi hàng hoá và dịch vụ.
Theo nghĩa rộng là biểu hiện thu gọi của quá trình thông qua đó các quyết định của các gia đình về tiêu dùng các mặt hàng nào, các quyết định của các Công ty về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, và các 9 quyết định của các công nhân về việc làm bao lâu, cho ai đều được trung hoà bằng sự điều chỉnh của giá cả. Thị trường lao động là một tất yếu của nền kinh tế thị trường. Cái cần mua và bán ở đây là sức lao động - một loại hàng hoá đặc biệt, nó không giống bất cứ một loại hàng hoá thông thường nào, bởi vì bản thân nó trước hết là có giá trị sử dụng. Người lao động có thể là người chủ sử dụng chính sức lao động của bản thân hoặc có thể bán sức lao động cho người khác.
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần để thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội, là hoạt động gắn liền với sự hình thành và phát triển của loài người. Lao động có năng suất, chất lượng, hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội. Nên lao động được coi là hoạt động chủ yếu, là quyền và nghĩa vụ cơ bản của con người. Nhờ đó, từ nhiều thế kỷ nay đã hình thành bộ môn khoa học riêng chuyên nghiên cứu về lao động gọi là khoa học lao động.
Sức lao động. Sức lao động là khả năng về trí lực và thể lực của con người để tiến hành lao động (được hiểu như là khả năng lao động). Khả năng về thể lực bao gồm khả năng sinh công của cơ bắp và khả năng chịu đựng các yếu tố bất lợi đến sức khoẻ do tải trọng công việc cũng như các yếu tố có hại của điều kiện lao động, được quyết định bởi các tố chất bẩm sinh của cơ thể, quá trình rèn luyện và môi trường điều kiện sống. Khả năng về trí lực bao gồm khả năng hoạt động của trí óc, khả năng vận dụng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, khả năng sáng tạo, tác phong, kỷ luật nghề nghiệp., khả năng ứng xử trong quan hệ lao động.
Khả năng về trí lực được quyết định bởi di truyền và các yếu tố bẩm sinh của cơ thể; quá trình học tập, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm, điều kiện sống và môi trường tự nhiên xã hội. Nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định của một quốc gia, suy rộng ra có thể được xác định trên một địa phương, một ngành hay một vùng. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế xã hội.
Nguồn lao động. Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (những người nghỉ việc hoặc nghỉ hưu trước tuổi theo quy định của Bộ luật lao động). Lực lượng lao động. Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp.
Lực lượng lao động là bộ phận hoạt động của nguồn lao động. Việc làm là mọi hoạt động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật ngăn cấm. Người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực ngành nghề, đang hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, mang lại thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội. Thất nghiệp là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp hơn mức lương tối thiểu hiện hành.
Thất nghiệp là do cung cầu lao động vượt quá hoặc không phù hợp về cơ cấu với cầu về lao động, làm cho một bộ phận người lao động không tìm được việc làm. Lao động có đào tạo. Lao động có đào tạo là lao động có những thể chất cần thết được thông qua một hoặc nhiều đào tạo về trình độ chuyên môn, tay nghề. và có thể đảm nhiệm những công việc thuộc lĩnh vực chuyên môn của mình.
Lao động không có đào tạo hay lao động phổ thông. Lao động không có đào tạo là lao động có khả năng lao động nhưng không được đào tạo qua bất kỳ một trường lớp nào, họ chỉ làm được những công việc giản đơn mà không cần tới trình độ chuyên môn, tay nghề. Lao động kỹ thuật. Lao động kỹ thuật là lao động được thừa nhận có những thể chất cần thiết, có sự hiểu biết kỹ năng trong lao động do được đào tạo chuyên môn và tích luỹ kinh nghiệm trong thực tế để thực hiện công việc theo nguyên tắc với công nghệ, trang thiết bị, công cụ riêng nhằm đáp ứng các yêu cầu về số lượng, chất lượng, an toàn.
Lao động phức tạp. Lao động phức tạp là lao động kỹ thuật có kỹ năng và kỹ sảo đặc biệt thông qua đào tạo hoặc tích luỹ kinh nghiệm thực tế, đảm nhận được những công việc rất phức tạp, đáp ứng được các yêu cầu phát triển của kỹ thuật công nghệ. Lao động giản đơn. Lao động giản đơn là lao động có được đào tạo nhưng không chuyên sâu, họ chỉ đảm nhận được những công việc giản đơn không cần kỹ năng kỹ sảo đặc biệt.
Hiệu quả lao động. Hiệu quả lao động là lượng giá trị do người lao động sáng tạo ra trong một đơn vị thời gian lao động. Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Khái niệm về lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Người ta chia lao động ra làm nhiều loại như lao động giản đơn, lao động phức tạp, lao động trí óc, lao động chân tay.Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là loại lao động để chỉ những người lao động có trình độ cao, lao động có chuyên môn kỹ thuật, là tầng lớp, trí thức, lao động khoa học kỹ thuật, công nhân bậc cao lành nghề.
Lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là lao động được thừa nhận có những thể chất cần thiết, có được trí thông minh và sự giáo dục cần thiết và đã được sự khéo léo và những trí thức yêu cầu để thực hiện công việc theo những định chuẩn đầy đủ về an toàn, số lượng và chất lượng. Theo như luật giữ lao động thương binh xã hội của bộ lao động thương binh xã hội định nghĩa.