LỜI MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển đổi mới, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước nhà, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trên quan điểm : ”Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển”. Nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là thước đo chủ yếu sự phát triển của các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng phát triển nguồn nhân lực.
Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, hoàn thành công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong vài ba thập kỷ. Bắc Ninh là một tỉnh có nhiều tiềm năng và thế mạnh phát triển sản xuất công nghiệp. Trong những năm gần đây việc xây dựng các khu công nghiệp là khâu đột phá để đẩy nhanh tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh từ nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ sang công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Phấn đấu đến 2020 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp như Đại hội Đảng lần thứ XVI, XVII đã đề ra.
Mặc dù các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh được thành lập chưa lâu (chủ yếu sau tái lập tỉnh) nhưng đã có đóng góp tích cực vào thành quả phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh như: thu hút đầu tư, tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho người dân trong tỉnh, tăng thu ngân sách cho nhà nước. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua cho thấy: chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu của sự phát triển, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Vì vậy, việc đào tạo, sử dụng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang đặt ra mối quan tâm của các nhà quản lý, lãnh đạo trên địa bàn tỉnh. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Phát triển nguồn Nhân lực chất lƣợng cao tại một số Khu công nghiệp trên địa bàn Tỉnh Bắc Ninh” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp của mình.
1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của doanh nghiệp tại KCN trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. - Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh thời gian qua. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Đối tƣợng nghiên cứu - Nhân lực đang làm việc trong các DN tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. - Nhân lực đã qua đào tạo nghề, có chuyên môn nghiệp vụ và các đối tượng có nhu cầu lao động trên địa bàn tỉnh.
- Các Trung tâm giáo dục thường xuyên, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung cấp nghề và các cơ sở dạy nghề trên địa bàn Tỉnh.2 Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu vào số lượng và chất lượng nguồn nhân lực tại một số KCN từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại một số KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. - Không gian: Nghiên cứu một số KCN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có sự tham chiếu, so sánh với một số KCN ở một số tỉnh khác. - Thời gian: Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấp thu thập trong 3 năm, từ năm 2013 đến 2015, định hướng và các giải pháp đến 2020. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN II.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƢỢNG CAO TẠI MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 2.1 Một số khái niệm cơ bản 2.1 Khái niệm nguồn nhân lực chất lƣợng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao: có rất nhiều tác giả tiếp cận khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao” đều thiên về cách nhìn nhận, tiêu chí để xác định nguồn nhân lực chất lượng cao. “ Nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ CNH, HĐH là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhân lực khoa học công nghệ –là những người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên và nhóm công nhân kỹ thuật chất lượng cao” (trang Wed Đài phát thanh truyền hình Hải Phòng, tin ngày 21/4/2008 Hội thảo về đề án nguồn nhân lực chất lượng cao). Nguồn nhân lực chất lượng cao “bao gồm những nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng, nguồn nhân lực lãnh đạo quản lý và hoạch định chính sách, nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng” (trang Wed www.vn Tin ngày 25/4/2005:Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao). Như vậy nguồn nhân lực chất lượng cao phải được xem xét trên tất cả khía cạnh hình thành chất lượng nguồn nhân lực như: thể lực, trí lực, tâm lực… + Thể lực nguồn nhân lực: là sức khoẻ cơ thể và sức khoẻ tinh thần.
Thể lực là trạng thái thể lực tốt nhất, là điều kiện đảm bảo con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường , có thể đáp ứng những đòi hỏi về sự hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. + Trí lực nguồn nhân lực: là trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động. Đó là năng lực của trí tuệ, phần lớn quyết định khả năng sáng tạo của con người. Nó là tổ hợp từ văn hoá, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách nhìn nhận, đánh giá nguồn nhân lực có phải là nguồn nhân lực chất lượng cao hay không là cách đánh giá toàn diện trên tất cả các khía cạnh, đảm bảo gắn với kết quả lao động. Sự phát triển của phân công lao động có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển của khoa học công nghệ. Từ đó kéo theo sự hình thành các nguồn lực khác nhau theo hướng phát triển phân công lao động xã hội. Tựu trung lại: “ nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm chỉ những người lao động cụ thể, có trình độ lành nghề (về chuyên môn kỹ thuật) ứng với một nghành nghề cụ thể, theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (đại học, trên đại học, lao động kỹ thuật lành nghề), có kỹ năng lao động giỏi và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất kinh doanh, có sức khoẻ và phẩm chất tốt, có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả cao” 2.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực Có nhiều định nghĩa, khái niệm về phát triển nguồn nhân lực.
Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội (2006): “Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về NNL cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển”. Trong khái niệm này chất lượng NNL được giải thích như sau: “Thể lực của NNL: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần”. “Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động”. “Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.
+ Theo sách Cẩm nang về phát triển nguồn nhân lực của tác giả Leonard Nadler (1984): “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân”. Khái niệm này được giải thích như sau: 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com “Các kinh nghiệm học tập có tổ chức. Con người học có thể lĩnh hội kiến thức bằng nhiều cách học khác nhau. Trong phát triển nguồn nhân lực chúng ta quan tâm đến việc học có chủ định, trong đó người học cam kết học tập với mục tiêu, kế hoạch học tập rõ ràng và có sự chuẩn bị cho việc đánh giá.
Học có chủ định được tổ chức chính thức, hoặc không chính thức. Học chính thức liên quan đến sử dụng trang thiết bị, tài liệu. Học không chính thức thường cá nhân hóa hơn là học chính thức. Học không chính thức không chỉ giới hạn đối với những người có học vấn cao.
Đào tạo qua công việc là ví dụ về học không chính thức. Để có hiệu quả, đào tạo qua công việc cần được tổ chức. Để tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc: phát triển NNL không thể chắc chắn rằng kinh nghiệm học tập sẽ thay đổi kết quả thực hiện công việc. Kết quả thực hiện công việc bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, và nhiều nhân tố nằm ngoài sự quản lý của người làm công tác phát triển NNL.
Người quản lý trực tiếp mới là nhân tố hàng đầu trong việc ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của người lao động. Vì vậy, thông qua hoạt động phát triển NNL chỉ có thể tăng khả năng cải thiện kế quả thực hiện công việc, khả năng phát triển tổ chức”.