Phát triển ngành công nghiệp sữa việt nam trong bối cảnh thực thi hiệp định thương mại tự do việt nam eu evfta

Chuyên khảo phân tích Phát triển ngành công nghiệp sữa việt nam trong bối cảnh thực thi hiệp định thương mại tự do việt, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Kinh Doanh Thương Mại

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2022

120
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Tình hình nghiên cứu

0.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Nội dung nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU

1.1. Một số vấn đề cơ bản về ngành công nghiệp sữa

1.1.1. Khái niệm ngành công nghiệp sữa

1.1.2. Chuỗi giá trị ngành công nghiệp sữa

1.2. Cơ sở lý luận về phát triển ngành công nghiệp sữa

1.2.1. Khái niệm phát triển ngành công nghiệp sữa

1.2.2. Tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngành công nghiệp sữa

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành công nghiệp sữa

1.4. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu

1.4.1. Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do (FTA)

1.4.2. Tổng quan về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THỰC THI HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU

2.1. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.1.1. Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.1.2. Vị trí, vai trò của ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.1.3. Chuỗi giá trị của ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.1.5. Đánh giá sự phát triển của ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.2. Ảnh hưởng của Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu đến ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.2.1. Quan hệ thương mại ngành sữa Việt Nam – EU

2.2.2. Ảnh hưởng của EVFTA tới ngành công nghiệp sữa Việt Nam

2.2.3. Đánh giá chung về ngành công nghiệp sữa Việt Nam trong bối cảnh thực thi EVFTA

2.2.3.1. Những thành công đã đạt được
2.2.3.2. Những hạn chế cần khắc phục

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH THỰC THI EVFTA

3.1. Quan điểm và định hướng phát triển ngành công nghiệp sữa

3.1.1. Quan điểm phát triển

3.1.2. Định hướng phát triển

3.2. Giải pháp phát triển ngành công nghiệp sữa

3.2.1. Kiến nghị đối với Nhà nước

3.2.2. Giải pháp đối với doanh nghiệp, hộ chăn nuôi

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1A. Danh mục lãnh thổ thành viên Liên minh châu Âu

Phụ lục 2A. Biểu thuế sữa và các sản phẩm sữa được hưởng mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) giai đoạn 2020- 2022 (từ ngày 01/08/2020 đến ngày 31/12/2022)

Phụ lục 2B. Danh mục các sản phẩm sữa được hưởng ưu đãi cắt giảm thuế từ EVFTA theo cam kết chung từ phía Việt Nam và EU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Ngành Sữa Việt Nam Dưới Tác Động Của Hiệp Định EVFTA

Ngành sữa Việt Nam đã trải qua nhiều biến đổi trong những năm gần đây, đặc biệt là sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020. Hiệp định này không chỉ mở ra cơ hội cho ngành sữa mà còn đặt ra nhiều thách thức. Ngành sữa Việt Nam đã từ chỗ phải nhập khẩu hoàn toàn, giờ đây đã có thể tự chủ một phần nguồn cung và xuất khẩu sang hơn 50 quốc gia. Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu tiêu dùng trong nước và tiềm năng xuất khẩu.

1.1. Tình Hình Hiện Tại Của Ngành Sữa Việt Nam

Ngành sữa Việt Nam hiện nay đang phát triển mạnh mẽ với nhiều doanh nghiệp lớn tham gia. Tuy nhiên, sản lượng sữa trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng. Các sản phẩm sữa nội địa vẫn phải cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ EU, nơi có công nghệ sản xuất tiên tiến và chất lượng cao.

1.2. Tác Động Của EVFTA Đến Ngành Sữa

Hiệp định EVFTA đã tạo ra nhiều cơ hội cho ngành sữa Việt Nam, bao gồm việc giảm thuế nhập khẩu và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng phải đối mặt với những yêu cầu khắt khe về chất lượng và quy định xuất xứ sản phẩm.

II. Những Thách Thức Ngành Sữa Việt Nam Phải Đối Mặt Sau EVFTA

Mặc dù có nhiều cơ hội, ngành sữa Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức. Các doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện quy trình sản xuất để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, việc cạnh tranh với các sản phẩm sữa nhập khẩu từ EU cũng là một vấn đề lớn.

2.1. Cạnh Tranh Với Sản Phẩm Nhập Khẩu

Sản phẩm sữa nhập khẩu từ EU thường có chất lượng cao và giá cả cạnh tranh. Điều này đặt ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp sữa trong nước trong việc cải thiện chất lượng và giá thành sản phẩm.

2.2. Quy Định Về Chất Lượng Và Xuất Xứ

Các quy định về chất lượng và xuất xứ sản phẩm sữa theo yêu cầu của EVFTA là một thách thức lớn. Doanh nghiệp cần phải đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất để đáp ứng các tiêu chuẩn này.

III. Giải Pháp Phát Triển Ngành Sữa Việt Nam Trong Bối Cảnh EVFTA

Để phát triển bền vững, ngành sữa Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể. Các doanh nghiệp cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm, cải thiện quy trình sản xuất và mở rộng thị trường xuất khẩu. Chính phủ cũng cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp.

3.1. Nâng Cao Chất Lượng Sản Phẩm

Đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại và cải thiện quy trình chế biến là cần thiết để nâng cao chất lượng sản phẩm sữa. Các doanh nghiệp cần chú trọng đến việc kiểm soát chất lượng từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến sản phẩm cuối cùng.

3.2. Mở Rộng Thị Trường Xuất Khẩu

Các doanh nghiệp cần tìm kiếm và mở rộng các thị trường xuất khẩu mới, đặc biệt là các thị trường tiềm năng trong khu vực châu Á và châu Âu. Việc tham gia các hội chợ thương mại quốc tế cũng là một cách hiệu quả để quảng bá sản phẩm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu Ngành Sữa

Nghiên cứu cho thấy ngành sữa Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển. Các doanh nghiệp đã có những bước tiến đáng kể trong việc cải thiện chất lượng sản phẩm và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, vẫn cần có những nỗ lực hơn nữa để tận dụng tối đa cơ hội từ EVFTA.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về Ngành Sữa

Nghiên cứu cho thấy rằng ngành sữa Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm qua, với sản lượng sữa tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua để đạt được sự phát triển bền vững.

4.2. Ứng Dụng Các Giải Pháp Vào Thực Tiễn

Các doanh nghiệp cần áp dụng các giải pháp đã được nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất để nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm. Việc hợp tác giữa các doanh nghiệp và cơ quan nhà nước cũng là rất quan trọng để phát triển ngành sữa.

V. Kết Luận Về Tương Lai Ngành Sữa Việt Nam Dưới Tác Động Của EVFTA

Ngành sữa Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức lớn. Để phát triển bền vững, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp và chính phủ. Việc tận dụng tốt các cơ hội từ EVFTA sẽ giúp ngành sữa Việt Nam vươn xa hơn trên thị trường quốc tế.

5.1. Triển Vọng Tương Lai Ngành Sữa

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng, ngành sữa Việt Nam có nhiều triển vọng trong tương lai. Tuy nhiên, cần phải có những chiến lược phát triển rõ ràng để tận dụng tối đa cơ hội từ EVFTA.

5.2. Đề Xuất Chính Sách Hỗ Trợ

Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ cụ thể cho ngành sữa, bao gồm việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận công nghệ mới và mở rộng thị trường xuất khẩu.

22/07/2025
Phát triển ngành công nghiệp sữa việt nam trong bối cảnh thực thi hiệp định thương mại tự do việt nam eu evfta

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP SỮA VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM – LIÊN MINH CHÂU ÂU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về ngành công nghiệp sữa 1.1 Khái niệm ngành công nghiệp sữa Theo phụ lục Ngành nghề cụ thể trong công nghiệp (Ban hành cùng với Quyết định số 486-TCTK/CN ngày 02-6-1966 của Tổng cục Thống kê), hoạt động chế biến sữa và các sản phẩm bằng sữa được xếp vào Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thuộc nhóm B (nhóm sản xuất ra vật phẩm tiêu dùng), phục vụ cho tiêu dùng cá nhân và xã hội. Do đó, để làm rõ nội hàm của thuật ngữ ngành công nghiệp sữa, trước tiên cần phân tích khái niệm ngành công nghiệp và ngành công nghiệp chế biến thực phẩm. ➢ Ngành công nghiệp Cũng theo quyết định 486-TCTK/CN, khái niệm ngành công nghiệp được đưa ra như sau: Ngành công nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, bao gồm các hoạt động: - Khai thác của cải vật chất có sẵn trong thiên nhiên mà lao động của con người chưa tác động vào. - Chế biến những sản phẩm đã khai thác và chế biến sản phẩm của nông nghiệp.

- “Hoạt động sản xuất công nghiệp còn bao gồm cả việc sửa chữa máy móc thiết bị và vật phẩm tiêu dùng”. Như vậy là tất cả các hoạt động khai thác chế biến và sửa chữa nói trên không kể quy mô, hình thức như thế nào, không kể với loại công cụ lao động gì, hoặc bằng cơ khí hiện đại, nửa cơ khí, hoặc bằng công cụ thô sơ dựa vào sức lao động và sự khéo léo của chân tay người lao động là chính, đều xếp vào ngành công nghiệp. 9 ➢ Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Ngành công nghiệp thực phẩm nằm trong 13 nhóm ngành công nghiệp lớn tại Việt Nam theo quy định tại văn bản này, bao gồm cả việc khai thác và chế biến thực phẩm. Từ đó có thể hiểu rằng, công nghiệp chế biến thực phẩm là một bộ phận cấu thành của ngành công nghiệp, thực hiện hoạt động bảo quản, cải biến và nâng cao giá trị của nguyên liệu đầu vào (là sản phẩm của hoạt động nông nghiệp) thông qua các hoạt động công nghiệp có sử dụng máy móc, công nghệ hiện đại để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường.

Ngành công nghiệp thực phẩm (C10) ở Việt Nam bao gồm 8 nhóm phân ngành chính (ngành cấp 3), đó là: - Chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt (101) - Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản (102) - Chế biến và bảo quản rau quả (103) - Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật (104) - Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa (105) - Xay xát và sản xuất bột (106) - Sản xuất thực phẩm khác (107) - Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (108) ➢ Ngành công nghiệp sữa Theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg, chế biến sữa và các sản phẩm sữa được xếp vào nhóm C (Công nghiệp chế biến, chế tạo), mã số C10500. Định nghĩa “Ngành công nghiệp sữa” có thể được hiểu một cách khái quát là một ngành sản xuất, là bộ phận của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, bao gồm hoạt động khai thác nguyên liệu thô từ ngành chăn nuôi bò sữa, trải qua quá trình chế biến có sử dụng máy móc trang thiết bị hiện đại để tạo ra các sản phẩm tiêu dùng hoàn chỉnh cụ thể, phục vụ đời sống của người tiêu dùng và xã hội. Theo quyết định số 337/QĐ-BKH, chế biến sữa và các sản phẩm sữa bao gồm: 10 - Chế biến sữa tươi dạng lỏng, sữa đã tiệt trùng, sữa diệt khuẩn, đồng hoá và hoặc đã xử lý đun nóng; - Chế biến các đồ uống giải khát từ sữa; - Sản xuất kem từ sữa tươi, sữa đã tiệt trùng, diệt khuẩn, đồng hoá; - Sản xuất sữa làm khô hoặc sữa đặc có đường hoặc không đường; - Sản xuất sữa hoặc kem dạng rắn; - Sản xuất bơ; - Sản xuất sữa chua; - Sản xuất pho mát hoặc sữa đông; - Sản xuất sữa chua lỏng; - Sản xuất casein hoặc lac to; - Sản xuất kem và các sản phẩm đá ăn được khác như kem trái cây. Loại trừ: - Sản xuất sữa thô (động vật lấy sữa) - Sản xuất sữa thô (cừu, ngựa, dê, lừa.) - Sản xuất sữa tách bơ và các sản phẩm bơ - Hoạt động cửa hiệu sản xuất kem Có nhiều quan điểm cho rằng, ngành sữa là một ngành nông nghiệp, bắt nguồn từ hoạt động chăn nuôi bò lấy sữa để khai thác nguyên liệu sản xuất.

Tuy nhiên, chăn nuôi bò sữa thực tế chỉ là một mắt xích trong chuỗi giá trị của ngành công nghiệp sữa, là một hoạt động nằm trong chuỗi hoạt động sản xuất sữa tại Việt Nam. Theo quyết định 486-TCTK/CN, Tổng cục Thống kê đã đưa ra cách thức phân biệt ranh giới giữa ngành công nghiệp và một số ngành kinh tế khác. Cụ thể, ngành công nghiệp khác với ngành nông nghiệp ở chỗ: “Ngành nông nghiệp kết hợp lao động của con người, với quá trình phát triển tự nhiên của sinh vật để tạo ra sản phẩm nông nghiệp. Trong quá trình làm ra sản phẩm, sức lao động của con người chỉ làm 11 tăng thêm sức dinh dưỡng của sản phẩm nông nghiệp chứ không làm thay đổi cơ cấu, tính chất, hình thái, công dụng của sản phẩm như trong ngành công nghiệp”.

Trong khi đó, sữa và các sản phẩm sữa khác như bơ, phomai, sữa chua, váng sữa, kem. đều trải qua rất nhiều công đoạn sản xuất khác nhau như tiệt trùng, đồng hóa, tách bơ,. không chỉ thay đổi về giá trị dinh dưỡng mà còn thay đổi về thành phần vật lý, thành phần hóa học, cấu trúc và giá trị sử dụng của từng loại sản phẩm. Do đó, ngành công nghiệp sữa phải được xếp vào nhóm ngành công nghiệp.

Trong khuôn khổ của luận văn, thuật ngữ “Ngành công nghiệp chế biến sữa” hay “Ngành sữa” đều được hiểu là “Ngành công nghiệp sữa”. Chuỗi giá trị ngành công nghiệp sữa Chuỗi giá trị của ngành công nghiệp sữa bao gồm tất cả các hoạt động tạo nên giá trị, được sắp xếp theo trình tự nhất định, thực hiện việc khai thác, sản xuất nguyên liệu đầu vào và chuyển hóa, chế biến chúng thành các sản phẩm hoàn chỉnh, phân phối đến tay người tiêu dùng. Theo Michael Porter hoạt động của doanh nghiệp hay ngành nghề nào đó được chia thành 2 loại: hoạt động chủ yếu và hoạt động bổ trợ. Trong khuôn khổ luận văn, chuỗi giá trị ngành công nghiệp sữa được phân tích trên các hoạt động chính của chuỗi, bao gồm: - Vận chuyển đầu vào:việc tiếp nhận, lưu trữ và phân phối nguyên liệu được sử dụng trong quá trình sản xuất.

- Chế tạo: giai đoạn mà nguyên liệu thô được chuyển thành sản phẩm cuối cùng. - Vận chuyển đầu ra: là phân phối sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng. - Tiếp thị và bán hàng: liên quan đến quảng cáo, khuyến mãi, tổ chức bán hàng, kênh phân phối, định giá và quản lý sản phẩm cuối cùng để đảm bảo nhắm được mục tiêu đến các nhóm người tiêu dùng thích hợp. 12 - Dịch vụ: là các hoạt động cần thiết để duy trì hiệu suất của sản phẩm sau khi sản phẩm được sản xuất và bao gồm những yếu tố như cài đặt, đào tạo, bảo trì, sửa chữa, bảo hành và dịch vụ sau bán hàng.

Nghiên cứu, phân tích chuỗi giá trị của ngành sữa có ý nghĩa quan trọng trong việc hiểu rõ được các mắt xích, các hoạt động cấu thành nên chuỗi cũng như các yếu tố tác động, từ có cải thiện lợi thế cạnh tranh của ngành.2 Cơ sở lý luận về phát triển ngành công nghiệp sữa 1.1 Khái niệm phát triển ngành công nghiệp sữa ➢ Phát triển Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin: Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của sự vật, là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất. Phát triển kinh tế có thể được hiểu là quá trình biến đổi về cả lượng và chất, là sự kết hợp chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề là kinh tế và xã hội. Nói cách khác, nội dung của phát triển kinh tế được thể hiện thông qua: - Sự gia tăng tổng mức thu nhập và gia tăng mức thu nhập bình quân đầu người của nền kinh tế trong dài hạn - Sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng tiến bộ, hợp lý (bao gồm việc mở rộng chủng loại, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo cơ sở để đạt được tiến bộ xã hội một cách sâu rộng nhất. - Sự biến đổi các vấn đề xã hội theo hướng tích cực hơn (nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội,.

Theo Giáo trình Kinh tế phát triển (2014), phát triển kinh tế đòi hỏi việc sử dụng tối ưu các nguồn lực, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế tri thức, không ngừng nâng cao năng suất lao động với mục tiêu tăng trưởng kinh tế lâu dài, ổn định. Khác với phát triển kinh tế là quá trình thay đổi theo hướng tiến bộ về mọi mặt, tăng trưởng kinh tế là sự thay đổi thuần túy về lượng, gia tăng thu 13 nhập (hiện vật hoặc giá trị) của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định, thể hiện ở quy mô và tốc độ gia tăng. Hai khái niệm này tuy khác nhau những lại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để phát triển kinh tế.

Sự tích lũy về lượng của nền kinh tế tạo ra sự nhảy vọt về chất, là điều kiện cơ bản giúp cải thiện đời sống người dân. Tăng trưởng kinh tế cao và dài hạn không chỉ là cơ sở để nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, từ đó mở ra cơ hội thu hút nguồn lực, tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống xã hội, mà còn tạo điều kiện để tăng thu ngân sách nhà nước, thực hiện xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội. Ngược lại, phát triển kinh tế tạo cơ sở kinh tế xã hội vững chắc để đạt được tăng trưởng kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ