Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức thực thi chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh Chương 2: Phân tích thực trạng tổ chức thực thi chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai 7 Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức thực thi chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh Lào Cai 8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC THI CHÍNH SÁCH KHUYẾN KHÍCH PHÁT TRIỂN NGÀNH CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP TỈNH 1. Ngành chế biến khoáng sản 1. Khái niệm ngành chế biến khoáng sản Trong địa chất học, khoáng sản được định nghĩa là các đá hoặc tập hợp khoáng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành do các quá trình địa chất xác định, mà từ đó con người có thể lấy kim loại, các hợp chất hay các khoáng vật để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân. Dưới góc độ pháp luật, Luật Khoáng sản năm 2010 có quy định: "Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ".
Như vậy, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên hàng ngàn, hàng nghìn năm ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất và trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia. Chế biến khoáng sản là tuyển, luyện, chế biến khoáng sản đến các sản phẩm như kim loại hay các sản phẩm khác sẵn sàng để thu được khoáng sản có chất lượng, giá trị thương mại cao hơn khoáng sản nguyên khai. Từ cách hiểu trên về khoảng sản và chế biến khoáng sản, trong khuôn khổ luận văn, tác giả thống nhất sử dụng định nghĩa:“Ngành chế biến khoáng sản là một lĩnh vực sản xuất bao gồm các hoạt động phân loại, làm giàu khoáng sản, hoạt động khác nhằm làm gia tăng giá trị khoáng sản đã khai thác” (Quốc hội, 1996).
Đặc điểm của ngành chế biến khoáng sản Khi nói đến đặc điểm của ngành chế biến khoáng sản, ta không thể không kể đến tầm quan trọng của nó đối với các ngành công nghiệp khác. Khoáng sản là nguồn nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp then chốt. Điển hình như: Đá vôi dùng cho sản xuất xi măng, sản xuất vật liệu xây dựng; Quặng sắt được dùng cho ngành luyện kim đen, luyện kim màu, cơ khí, công nghiệp phân bón, công nghiệp hóa chất.Tuy nhiên công nghiệp chế biến của Việt Nam còn chưa phát triển, các loại khoáng sản khai thác được vẫn chủ yếu dùng để xuất khẩu thô. Tài nguyên khoáng sản đã có những đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế.
Khi tiến hành các hoạt động trong lĩnh vực chế biến khoáng sản, doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước. Trong đó đáng kể nhất là thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Ngành chế biến khoáng sản cùng với khai khoáng giúp các quốc gia bình ổn, giữ gìn trật tự xã hội. Công nghiệp chế biến khoáng sản đã tạo công ăn việc làm cho người lao động.
Hơn nữa, khoáng sản còn tạo cho các quốc gia có một vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế. Tài nguyên khoáng sản góp phần không nhỏ vào việc làm tăng tính độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia. Thậm chí trong một số trường hợp, tài nguyên khoáng sản còn làm tăng các ảnh hưởng về mặt chính trị của quốc gia này đối với quốc gia khác. Các quốc gia không có tài nguyên khoáng sản và ngành chế biến khoáng sản phát triển thường phụ thuộc rất nhiều về kinh tế cũng như chính trị đối với các quốc gia có ưu thế trong vấn đề này.
Tuy nhiên, cái gì cũng có hai mặt của nó. Việc khai thác và chế biến khoáng sản tác động không nhỏ đến môi trường, đến cuộc sống của con người.Chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh Trong các văn bản chính sách ban hành, nhà nước đã sử dụng nhiều đòn bẩy chính sách để khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản. Các chính sách này đã được luật hóa trong Luật Khoáng sản năm 2005 và 2010. Khái niệm về chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh Các chính sách là công cụ quản lý quan trọng của nhà nước đối với mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Trước tiên chính sách thể hiện kế hoạch của nhà nước nhằm thay đổi và phát triển một lĩnh vực nhất định. Các hành vi thực hiện kế hoạch và đưa lại những kết quả thực tế cũng là một phần của chính sách. Do đó chính sách chính là kế hoạch của những hành động thực tiễn (Nguyễn Thị Lệ Thúy & Bùi Thị Hồng Việt, 2012). Chính sách khuyến khích phát triển khoáng sản là một bộ phận trong chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách khuyến công, chính sách khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh.
Các địa phương thường sẽ 11 không xây dựng chính sách khuyến khích phát triển riêng cho ngành khoáng sản. Như vậy, chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh là tổng thể các quan điểm, các giải pháp và công cụ mà chính quyền cấp tỉnh sử dụng để tác động lên các chủ thể trong lĩnh vực chế biến khoáng sản nhằm khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản theo định hướng mục tiêu của chính quyền cấp tỉnh. Mục tiêu chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh Mục tiêu của chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản là đạt được những kết quả mà nhà nước mong muốn đạt được thông qua thực hiện các giải pháp chính sách. Mục tiêu của chính sách khuyến khích phát triển ngành khoáng sản thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể, từ mục tiêu định tính đến mục tiêu định lượng.
Trong thực tế, mục tiêu mang yếu tố định tính là mục tiêu chung, tức là chỉ mang tính cảm nhận. Các mục tiêu cụ thể thường lượng hóa thành các tiêu chí định lượng cung cấp cơ sở cho đo lường, giám sát và đánh giá mức độ đạt được. Do chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản có nhiều chính sách bộ phận nằm trong các chính sách về khuyến công, khuyến khích đầu tư, chính sách khoáng sản nên các mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể không tách rời so với các mục tiêu của các chính sách này, được thể hiện cụ thể ở các mục tiêu sau: Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển ngành chế biến khoáng sản, đặc biệt là chế biến sâu khoáng sản. Thứ hai, nâng cao tỷ trọng và giá trị sản xuất ngành chế biến khoáng sản trong giá trị toàn ngành công nghiệp cũng như giá trị sản xuất chung của địa phương.
12 Thứ ba, chính sách khuyến khích phát triển ngành khoáng sản góp phần giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách nhà nước từ ngành chế biến khoáng sản, nâng cao đời sống cho nhân dân trên địa bàn. Thứ tư¸ chính sách phát triển ngành khoáng sản góp phần bảo vệ môi trường thông qua các hoạt động quản lý chất thải, nước thải, hoàn nguyên môi trường, khuyến khích sử dụng công nghệ hiện đại, có biện pháp giảm thiểu tác động môi trường tốt nhất. Chủ thể và đối tượng của chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh * Chủ thể của chính sách Đối với các chính sách công, chủ thể ban hành chính sách là nhà nước, bao gồm các cơ quan và cá nhân trong bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các cấp… Chủ thể ban hành, quyết định chính sách khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản là Quốc Hội và Chính phủ. Căn cứ vào chính sách chung do Chính phủ ban hành, HĐND và UBND cấp tỉnh cụ thể hóa các quy định dựa trên điều kiện thực tế của địa phương.
* Đối tượng thụ hưởng của chính sách: Đối tượng thụ hưởng của chính sách khuyến khích phát triển ngành khoáng sản của chính quyền cấp tỉnh là các tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư sản xuất chế biến khoáng sản trên địa bàn tỉnh, có thể do trung ương hoặc do tỉnh quản lý.Các chính sách bộ phận Căn cứ trên các quy định về khuyến công, khuyến khích đầu tư và chính sách về khoáng sản của Chính phủ, các địa phương đưa ra nhiều chính sách bộ phận khác nhau để khuyến khích phát triển ngành chế biến khoáng sản. Các chính sách bộ phận thường bao gồm: (i) Chính sách ưu 13 đãi về tiền sử dụng đất; (ii)Chính sách ưu đãi về tiền thuê đất; (iii) Chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; (iv) Chính sách hỗ trợ đào tạo cho người lao động; Trong đó, nội dung cơ bản của 2 chính sách bộ phận, thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn, sẽ được đưa ra phân tích cụ thể. Chính sách ưu đãi về tiền sử dụng đất Quy định tại điều 13 Luật đất đai, Chính phủ (2013) chỉ rõ mức ưu đãi tiền thuê đất được quy định như sau: - Miễn tiền thuê đất đối với các dự án thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. - Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước 15 năm kể từ ngày xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng đối với dự án khuyến khích đầu tư; - Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước 11 năm kể từ ngày xây dựng hoàn thành và đưa vào sử dụng đối với dự án không thuộc 2 đối tượng trên; - Giảm 70% tiền thuê đất, thuê mặt nước từ năm nhà đầu tư hết thời gian hưởng các ưu đãi trên.
Chính quyền cấp tỉnh quy định cụ thể cho địa phương mình và các doanh nghiệp nói chung trong đó có doanh nghiệp ngành chế biến khoáng sản nói riêng thỏa mãn điều kiện trên sẽ nhận được ưu đãi về tiền thuê đất. Chính sách hỗ trợ đào tạo cho người lao động Căn cứ vào Nghị định số 45/2012/NĐ-CP ngày 21 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ về khuyến công (Chính phủ, 2012) và Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 về phê duyệt đề án “đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Thủ tướng Chính phủ, 2009), chính quyền cấp tỉnh đưa ra các chính sách hỗ trợ đào tạo cho người lao động nói chung và người lao động trong ngành chế biến khoáng sản nói riêng.