phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án gồm 4 chương, 9 tiết. 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI LUẬN ÁN Nghiên cứu về vấn đề hội nhập văn hóa và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc những năm qua thu hút không ít nhà khoa học tham gia với những chủ đề phong phú, phương pháp tiếp cận đa dạng. Theo mục đích, nhiệm vụ của luận án, chương tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài sẽ làm rõ hai nhóm vấn đề chính. Tình hình nghiên cứu liên quan đến các vấn đề lý luận chung về văn hóa 1.
Những nghiên cứu về khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm rộng lớn, tồn tại trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về khái niệm văn hóa thuộc các ngành khoa học lịch sử, nhân loại học, dân tộc học, xã hội học, văn hóa học, triết học. Điều đó cho thấy các quan điểm về văn hóa là rất phong phú, đa dạng và hết sức phức tạp. Về xuất xứ khái niệm văn hóa, đa số các nhà nghiên cứu đều coi định nghĩa văn hóa của nhà nghiên cứu văn hóa người Anh Edward B.
Tylor (1832 - 1917) đưa ra trong công trình “Văn hóa nguyên thủy” (1871) là định nghĩa khoa học đầu tiên về văn hóa. Trong công trình“Văn hóa: Tổng luận về các khái niệm và định nghĩa” (1952), hai tác giả A.Kroeber và Clyde Kluckhohn đã liệt kê hơn 150 định nghĩa văn hóa. Từ đó cho đến nay, đã xuất hiện thêm rất nhiều định nghĩa văn hóa. Khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa trên thế giới đã tập trung làm rõ nội hàm của văn hóa, coi văn hóa là những đặc điểm về thói quen, lối sống, phong tục, tập quán, cách thức lao 8 động sản xuất… của các cộng đồng người, các quốc gia, dân tộc, coi đó là những cái giúp phân biệt các dân tộc trên thế giới với nhau.
Theo Từ điển Bách khoa thư Le Petit Larousse (năm 2000 của Pháp), “văn hóa hiểu theo nghĩa rộng là tập tục, tín ngưỡng, ngôn ngữ, tư tưởng, thị hiếu, thẩm mỹ, những hiểu biết kỹ thuật, cũng như toàn bộ tổ chức môi trường của con người, văn hóa vật chất gồm những công cụ, nhà ở và nói chung toàn bộ công nghiệp có thể truyền lại được, điều tiết những quan hệ và những ứng dụng của một nhóm xã hội với môi trường sinh thái của nó” [23; tr. Nhà nghiên cứu người Trung Quốc, Đàm Gia Kiện trong cuốn sách “Lịch sử văn hóa Trung Quốc” (1993) quan niệm: “Ngoại diên của văn hóa có rộng, có hẹp…, song trong đó các mặt chủ yếu không ngoài chế độ điển chương (văn trị), tập tục xã hội, văn học, nghệ thuật, triết học, tôn giáo, khoa học, kỹ thuật” [Theo 121; tr. UNESCO, trong Tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa (2001) cũng đã đưa ra một cách hiểu về văn hóa; cách hiểu đó cho rằng, văn hóa nên được xem như một tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, ngoài văn học, nghệ thuật, nó còn bao hàm lối sống, cách thức cùng chung sống, các hệ thống giá trị, các truyền thống và tín ngưỡng [Theo 121; tr. Ở Việt Nam, hiện vẫn chưa rõ khái niệm văn hóa xuất hiện trong văn tự lần đầu tiên từ khi nào.
Tuy nhiên, trong “Bình Ngô đại cáo” (1428), Nguyễn Trãi đã bàn đến văn hiến như sau: “Như nước Đại Việt ta từ trước/Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Trong nền văn hiến đó, Nguyễn Trãi xác định nét đặc trưng của văn hóa Việt là “phong tục” (“Phong tục Bắc Nam cũng khác”). Cho đến nay, các công trình nghiên cứu liên quan đến văn hóa ở nước ta là rất phong phú và đa dạng. Trong đó, trước hết phải kể đến học giả Đào 9 Duy Anh với quan niệm “Văn hóa là cách sinh hoạt của người” [1; tr.10-11] trong công trình nghiên cứu “Việt Nam văn hóa sử cương” (2000).
Ngay từ năm 1943, Hồ Chủ tịch đã đưa ra một khái niệm văn hóa có thể nói là khái quát hầu hết nội hàm các khái niệm văn hóa trước đó: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương tiện sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [102; tr. Trong những thập niên gần đây, các nhà nghiên cứu ở Việt Nam đã đưa ra thêm nhiều cách định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Trong công trình "Bản sắc văn hóa Việt Nam" (1998), nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã đề cập đến một số khái niệm như văn hóa, tiếp xúc văn hóa, khúc xạ văn hóa, giao lưu bản sắc. đồng thời tác giả cũng đưa ra quan điểm về sự giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với các nền văn hóa khác trên thế giới. Đặc biệt, tác giả đã đưa ra một định nghĩa mang tính chất thao tác luận về văn hóa. Trong quan niệm về văn hóa, Phan Ngọc cho rằng văn hóa là một quan hệ, có mặt ở mọi tộc người và chỉ ở con người mà thôi, cho nên cần tìm hiểu khái niệm văn hóa ở những khoa học nghiên cứu loài người một cách tổng thể như tâm lý học, triết học.
Khác với Phan Ngọc, nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng tiếp cận văn hóa học từ các góc độ lịch sử và khảo cổ học. Các công trình tiêu biểu của ông phải kể đến: “Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa” (1998); “Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm” (2000); Cơ sở văn hóa Việt Nam (2004). Trong các công trình nghiên cứu của mình, ông chủ yếu đề cập đến các giá trị văn 10 hóa truyền thống của dân tộc cũng như đề cao vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam - vốn được hình thành từ trong lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc ta. Trong công trình “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (Cái nhìn hệ thống loại hình)”(1997), nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã hướng đến những nét bản sắc đặc trưng cơ bản cần thiết cho việc tìm hiểu văn hóa Việt Nam cùng những quy luật hình thành và phát triển của chúng.
Tác giả đã vận dụng cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc kết hợp với phương pháp so sánh loại hình để tiến hành khảo sát văn hóa Việt Nam một cách toàn diện, trong sự liên hệ với các nền văn hóa khác nhau trên thế giới. Trong công trình này, tác giả đã đưa ra định nghĩa về văn hóa với bốn đặc trưng quan trọng của văn hóa: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính nhân sinh. Kết quả khảo sát trên cho thấy, trên thế giới và ở Việt Nam có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa do cách tiếp cận về văn hóa của các nhà khoa học khác nhau. Song, dù có khác nhau thì các quan điểm về văn hóa vẫn có sự thống nhất, đó là xem văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra, bao gồm cả mặt vật chất và mặt tinh thần, là cái đặc trưng của một cộng đồng người, giúp phân biệt các cộng đồng người khác nhau trong lịch sử.
Những nghiên cứu về bản chất của văn hóa Cùng với các nghiên cứu và đưa ra các định nghĩa về văn hóa, thì các quan niệm về bản chất của văn hóa đã được nhiều học giả quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Nghiên cứu về bản chất của văn hóa, các học giả đều luận giải và đi đến nhận định có tính chung về bản chất của văn hóa: Văn hóa là sản phẩm của hoạt động của con người, nó thể hiện sức mạnh của con người, năng lực của con người trong quá trình tồn tại và phát triển của mình. Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 10 - 2003 có giới thiệu bài “Bản chất của văn hóa” của các tác giả David Hicks và Margazet A. Bài viết 11 đã nêu lên được một số khía cạnh, thuộc tính của văn hoá đó là văn hoá không phải là cái có sẵn trong giới tự nhiên mà văn hoá là sản phẩm do con người tạo ra, là cái thuộc về con người và xã hội.
Từ góc độ triết học, có rất nhiều công trình, sách, bài báo nghiên cứu về văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động sáng tạo của con người. Nhà nghiên cứu Nguyễn Huy Hoàng đã công bố một số bài tạp chí bàn về bản chất văn hóa, tiêu biểu phải kể đến cuốn sách “Tiếp cận hoạt động của Mác - Cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và phát triển văn hóa con người ngày nay”. Tác giả Lê Ngọc Anh có bài viết đăng trên tạp chí Triết học - “Văn hóa với tư cách là phương thức hoạt động của con người”. Ở đây tác giả trình bày phương thức hoạt động của con người như một sự nhận thức, một tổ chức và cách thức lao động, sản xuất, hoạt động sống - chúng thể hiện văn hóa của cộng đồng người.
Trong bài viết “Văn hóa với tiềm năng hoạt động sáng tạo của con người”, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyên đã phân tích sâu sắc bản chất của văn hóa. Theo ông, văn hóa là “bản tính thứ hai” của loài người, nơi chứa đựng toàn bộ tinh hoa trí tuệ, phẩm chất, năng lực, ý chí, khát vọng và niềm tin của con người; nói tổng quát là toàn bộ sức mạnh bản chất Người. Quá trình tạo ra “thiên nhiên thứ hai” thực chất cũng là quá trình loài người không ngừng tự nâng cao và hoàn thiện chính mình trong suốt chiều dài lịch sử. Văn hóa luôn hiện thân trong mọi lĩnh vực hoạt động sống của xã hội; nó quy định phong cách tư duy, phương thức hành động, lối sống; nó cũng quy định hiệu quả và chất lượng hoạt động sáng tạo của mỗi cá nhân.
Sức mạnh quy định đó nằm trong nhân lõi tinh túy được kết tụ thành tiềm năng sáng tạo to lớn của văn hóa.