Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Hội nhập văn hóa – Phương thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" của nghiên cứu sinh Đào Thu Hương, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Huyên tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2018), thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mã số 92.002.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng văn hóa giữ vai trò vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Lịch sử phát triển nhân loại cho thấy không một nền văn hóa dân tộc nào có thể tự phát triển nếu đứng tách biệt khỏi cộng đồng văn hóa loài người; sự cô lập sẽ dẫn đến nghèo nàn và suy thoái. Mặc dù công cuộc đổi mới từ năm 1986 đã thúc đẩy sự chuyển biến trên nhiều mặt, song so với tốc độ phát triển nhanh của kinh tế, chính trị, xã hội, lĩnh vực văn hóa ở Việt Nam vẫn phát triển chậm, thiếu đồng bộ và chưa toàn diện. Tác giả xác định nguyên nhân căn bản của sự chậm trễ này là do nhận thức về vai trò của hội nhập quốc tế về văn hóa chưa đầy đủ và sâu sắc, thiếu tầm nhìn chiến lược, chưa xác định rõ nội dung, khía cạnh và phương thức hội nhập hiệu quả nhằm phát huy tối đa các tiềm năng văn hóa dân tộc. Do đó, luận án được triển khai để giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn này từ góc độ triết học mácxít.
Mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu và luận giải một cách có cơ sở khoa học rằng hội nhập quốc tế về văn hóa là một phương thức phát triển ưu trội của quá trình xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, đánh giá thành tựu và chỉ ra những vấn đề luận án tiếp tục giải quyết.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về bản chất và vai trò của hội nhập quốc tế về văn hóa với tư cách là phương thức phát triển văn hóa ưu trội.
- Làm rõ thực trạng, gồm các thành tựu và hạn chế của quá trình hội nhập quốc tế về văn hóa trong việc phát triển nền văn hóa Việt Nam thời gian qua.
- Đề xuất hệ thống quan điểm, nguyên tắc và các giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục đẩy mạnh hội nhập văn hóa trong thời gian tới.
Đối tượng nghiên cứu là hội nhập quốc tế về văn hóa với tính cách là phương thức phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Về phạm vi nghiên cứu, tác giả tiếp cận vấn đề thuần túy dưới lăng kính triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin, không khảo sát theo góc độ lịch sử chuyên biệt, chính trị học hay quan hệ quốc tế thuần túy. Về không gian và thời gian, phạm vi khảo sát giới hạn từ khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới đất nước và mở cửa hội nhập quốc tế (từ năm 1986 đến năm 2018), trọng tâm là giai đoạn Việt Nam trực tiếp đẩy mạnh hội nhập quốc tế về văn hóa.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:
Nhóm nghiên cứu về lý luận chung, bản chất và cấu trúc văn hóa:
- Về khái niệm văn hóa: Tác giả điểm lại định nghĩa của Edward B. Tylor trong công trình "Văn hóa nguyên thủy" (1871); công trình tổng thuật hơn 150 định nghĩa của A. Kroeber và Clyde Kluckhohn (1952); Từ điển Le Petit Larousse (2000); quan điểm của Đàm Gia Kiện trong "Lịch sử văn hóa Trung Quốc" (1993); và Tuyên bố quốc tế về tính đa dạng văn hóa của UNESCO (2001). Ở Việt Nam, tác giả ghi nhận quan niệm văn hiến của Nguyễn Trãi trong "Bình Ngô đại cáo" (1428); định nghĩa của Đào Duy Anh trong "Việt Nam văn hóa sử cương" (2000); định nghĩa toàn diện của Hồ Chí Minh (1943); tiếp cận thao tác luận của Phan Ngọc trong "Bản sắc văn hóa Việt Nam" (1998); cách tiếp cận địa văn hóa và khảo cổ học của Trần Quốc Vượng qua các tác phẩm "Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa" (1998), "Văn hóa Việt Nam, tìm tòi và suy ngẫm" (2000), "Cơ sở văn hóa Việt Nam" (2004); và cách tiếp cận hệ thống - cấu trúc của Trần Ngọc Thêm trong "Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam" (1997).
- Về bản chất văn hóa: Các tác giả David Hicks và Margaret A. (2003); công trình tiếp cận hoạt động của Nguyễn Huy Hoàng; bài viết của Lê Ngọc Anh (Tạp chí Triết học); công trình của Hồ Sĩ Quý ("Tìm hiểu về văn hóa và văn minh"); và phân tích của Nguyễn Văn Huyên về văn hóa như "bản tính thứ hai" hay "thiên nhiên thứ hai" chứa đựng năng lực bản chất người.
- Về cấu trúc và vai trò văn hóa: Phân chia 3 bộ phận của Đào Duy Anh (kinh tế, xã hội, tri thức); 3 thành tố của Trần Quốc Vượng (sản xuất, vũ trang, sinh hoạt); hệ thống 4 tiểu hệ của Trần Ngọc Thêm; phân loại theo lĩnh vực hoạt động của Nguyễn Văn Huyên; các tài liệu của Tuyên bố Hội nghị Mondiacult (1982) và La Quốc Kiệt (2003); cùng các công trình của Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Hoàng Trinh (1993), Trần Đình Hượu (1996), Nguyễn Từ Chi (1996), Dương Phú Hiệp (2010), Hồ Bá Thâm (2003) và tác phẩm "Văn hóa và Đổi mới" của Phạm Văn Đồng.
Nhóm nghiên cứu về phát triển văn hóa và hội nhập văn hóa:
- Nghiên cứu về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc: Các văn kiện Đảng từ Đề cương văn hóa (1943), Cương lĩnh (1991), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998), các kỳ Đại hội IX, X, XI, XII; các công trình của Nguyễn Khoa Điềm (2001), Phạm Minh Hạc (1996, 2003), Đỗ Thị Minh Thúy (2004), Phạm Duy Đức (2010), Đỗ Huy, Lương Quỳnh Khuê (1992), Nguyễn Tài Thư (2001).
- Nghiên cứu về hội nhập văn hóa với tư cách phương thức phát triển: Công trình quốc tế của Dominique Wolton (2003), Léopold Sédar Senghor (2007); công trình trong nước của Phạm Xuân Nam (2005), Nguyễn Văn Dân (2006), Ngô Đức Thịnh (2010), Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002), Phạm Duy Đức (2006), Nguyễn Chí Bền (2010), cùng các bài viết chuyên đề của Hồ Sĩ Quý, Nguyễn Trọng Chuẩn, Trường Lưu, Phạm Thái Việt, Bùi Thanh Quất, Trần Nguyên Việt. Đặc biệt, tác giả kế thừa luận điểm của Nguyễn Văn Huyên trong tiểu luận "Hội nhập văn hóa - phương thức tối ưu của quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc" (2002).
Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ rõ các công trình trước đây đa phần tiếp cận từng khía cạnh riêng rẽ, mang tính giải pháp tình thế hoặc khảo sát đơn lẻ từng tác động kinh tế - xã hội. Trước thời điểm nghiên cứu, chưa có công trình khoa học nào đi sâu chứng minh một cách có hệ thống, toàn diện từ giác độ triết học về vị trí, bản chất và tính chất ưu trội của hội nhập quốc tế về văn hóa với tư cách là một phương thức căn bản để phát triển nền văn hóa Việt Nam theo định hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và phát triển văn hóa trong điều kiện hội nhập. Đồng thời, luận án tiếp thu có chọn lọc các quan điểm lý thuyết phát triển hiện đại về văn hóa và giao lưu văn hóa quốc tế.
Tác giả sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích đối tượng nghiên cứu trong tính vận động, liên hệ và phát triển khách quan. Về mặt phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án hoàn toàn đi theo hướng định tính, kết hợp bốn nhóm phương pháp:
| Phương pháp nghiên cứu |
Mục đích và nội dung ứng dụng cụ thể trong luận án |
| Lịch sử và lôgic |
Luận giải quá trình vận động khách quan, chứng minh hội nhập văn hóa diễn ra có quy luật từ thấp đến cao, bị quy định bởi bối cảnh lịch sử dân tộc. |
| Phân tích và tổng hợp |
Làm rõ quá trình tiếp nhận, tương tác và thúc đẩy sự nảy sinh các yếu tố, giá trị văn hóa mới trong mối quan hệ giữa văn hóa dân tộc và văn hóa thế giới. |
| Khái quát hóa |
Đứng trên các chất liệu lý luận và thực tiễn sau phân tích để rút ra các kết luận khoa học về tính tất yếu và hiệu quả của các giá trị văn hóa mới hình thành. |
| Gắn lý luận với thực tiễn |
Kết hợp các nguyên lý triết học trừu tượng với tiến trình đổi mới văn hóa tại Việt Nam từ năm 1986 đến nay, gia tăng tính xác thực cho các luận điểm. |
Nguồn tư liệu nghiên cứu của luận án bao gồm các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin; các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các văn kiện Đại hội, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; các ấn phẩm, chuyên khảo, bài báo khoa học của các học giả chuyên ngành triết học, văn hóa học trong và ngoài nước; cùng các văn bản chỉ đạo, chính sách văn hóa của Nhà nước Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra đối với luận án
Nội dung chương tập trung hệ thống hóa khối lượng tài liệu tham khảo phong phú về lý luận văn hóa và thực tiễn phát triển văn hóa ở Việt Nam. Tác giả phân chia bức tranh nghiên cứu thành hai mảng lớn: các nghiên cứu lý luận chung về khái niệm, bản chất, cấu trúc, chức năng và vai trò của văn hóa đối với phát triển; và các nghiên cứu về phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế. Trên cơ sở phân tích đóng góp của các nhà nghiên cứu tiền bối, tác giả chỉ ra điểm giới hạn của các công trình trước đây là chưa xây dựng được một khung lý thuyết triết học hoàn chỉnh xem xét hội nhập văn hóa như một phương thức phát triển chủ đạo mang tính ưu việt. Chương 1 khép lại bằng việc xác định ba vấn đề trọng tâm mà luận án phải giải quyết: làm rõ lý luận về vai trò ưu trội của hội nhập văn hóa; khảo sát thực trạng hội nhập văn hóa của Việt Nam từ năm 1986 để chứng minh tính hiệu quả đối với sự phát triển nền văn hóa; và đề xuất hệ thống giải pháp triết học - thực tiễn mang tính khả thi.
Chương 2: Những vấn đề lý luận về văn hóa và hội nhập văn hóa
Chương này giải quyết các tiền đề lý luận nền tảng. Tác giả xây dựng định nghĩa làm công cụ nghiên cứu: Văn hóa là toàn bộ những giá trị do con người sáng tạo ra hoặc tác động để hình thành các giá trị chân - thiện - mỹ trong quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn có tính lịch sử - xã hội, định hướng đời sống phát triển theo hướng tiến bộ, nhân văn và bền vững. Về bản chất, văn hóa là "thiên nhiên thứ hai", là phương thức tồn tại và hoạt động sống của con người, thể hiện trình độ tự phát triển các năng lực bản chất người.
Tác giả luận giải ba quy luật vận động cơ bản của văn hóa:
- Quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (sự quy định của sản xuất vật chất đối với văn hóa và sự tác động trở lại của văn hóa đối với kinh tế - xã hội).
- Quy luật kế thừa văn hóa dựa trên nguyên lý phủ định biện chứng (sự liên hệ giữa cái cũ và cái mới, gạt bỏ yếu tố lạc hậu và nâng cao giá trị tích cực).
- Quy luật giao lưu, tiếp nhận và tiếp biến văn hóa (sự trao đổi, tương tác tất yếu giữa các nền văn hóa để tránh nguy cơ trì trệ, mai một).
Từ đó, tác giả khẳng định văn hóa là tinh hoa của dân tộc, kết tinh từ lịch sử sinh tồn và lao động sáng tạo. Hội nhập văn hóa được xác định là quá trình mở rộng giao lưu, đối thoại, chọn lọc, tiếp thu tinh hoa nhân loại và truyền bá giá trị dân tộc, hoạt động theo cơ chế đồng hóa và dị hóa biện chứng để biến ngoại lực thành nội lực, tạo động lực phát triển nền văn hóa vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc.
Chương 3: Thực trạng hội nhập văn hóa trong quá trình phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Chương 3 đi sâu đánh giá thực tiễn tiến trình hội nhập văn hóa của Việt Nam qua hơn 30 năm đổi mới:
- Về thành tựu: Hội nhập văn hóa đã bổ sung, định hình nhiều giá trị mới về tư duy dân chủ, pháp quyền, tác phong công nghiệp, văn hóa kinh doanh và phát triển các ngành công nghiệp văn hóa; làm mới các giá trị văn hóa truyền thống thông qua việc ứng dụng tri thức khoa học, bảo tồn di sản theo chuẩn mực quốc tế; nâng cao vị thế và uy tín của văn hóa Việt Nam trên trường quốc tế thông qua các chương trình giao lưu, tuần văn hóa và hồ sơ di sản được UNESCO công nhận.
- Về hạn chế và vấn đề đặt ra: Sự tiếp thu thiếu chọn lọc dẫn đến nguy cơ phai nhạt, mai một bản sắc truyền thống và làm lệch lạc chuẩn mực đạo đức lối sống ở một bộ phận giới trẻ; tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm văn hóa, giải trí nước ngoài đối với thị trường nội địa; sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa, văn hóa phẩm độc hại; cùng với đó là tình trạng tư duy quản lý bảo thủ, lúng túng, chậm đổi mới cơ chế vận hành gây kìm hãm hiệu quả hội nhập.
Chương 4: Đẩy mạnh hội nhập văn hóa nhằm tiếp tục phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Chương cuối xác lập định hướng và các giải pháp thực hiện:
- Về quan điểm: Quán triệt việc hội nhập phải phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; giữ vững tính độc lập, tự chủ về văn hóa; phát huy tối đa sức mạnh nội sinh gắn kết với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa thế giới.
- Về nguyên tắc: Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; nguyên tắc kế thừa biện chứng và phát triển; nguyên tắc bảo tồn bản sắc gắn liền với tính tiến bộ và nhân văn.
- Về nhóm giải pháp cụ thể:
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với hoạt động hội nhập văn hóa.
- Đẩy mạnh phát triển kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ nhằm tạo lập nền tảng vật chất và tri thức vững chắc cho quá trình hội nhập.
- Phát triển nhanh, đồng bộ các lĩnh vực và yếu tố văn hóa nhằm bổ sung, làm giàu các giá trị văn hóa dân tộc.
- Đa dạng hóa các hình thức và kênh hợp tác, giao lưu văn hóa quốc tế.
- Chủ động ngăn chặn, đẩy lùi sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa ngoại lai, đồng thời kiên quyết bài trừ, xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu còn tồn tại trong đời sống xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án công bố ba đóng góp mới về mặt khoa học:
- Thứ nhất, về mặt lý luận, luận án đã xây dựng hệ thống luận cứ triết học để luận chứng rằng hội nhập quốc tế về văn hóa không chỉ đơn thuần là hoạt động ngoại giao hay giao tiếp thông thường, mà chính là một phương thức phát triển ưu trội, giúp lưu thông huyết mạch văn hóa, thúc đẩy quá trình đồng hóa và dị hóa để làm giàu có và hiện đại hóa nền văn hóa dân tộc.
- Thứ hai, về mặt thực tiễn, luận án đã phân tích một cách khách quan thực trạng hội nhập văn hóa tại Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chỉ rõ các thành tựu về việc hình thành giá trị mới và làm mới giá trị truyền thống, đồng thời vạch trần các mâu thuẫn, nguy cơ xâm lăng văn hóa, sức ép cạnh tranh và rào cản tư duy quản lý.
- Thứ ba, luận án đã đề xuất một khung quan điểm chỉ đạo, hệ thống nguyên tắc hành động và 5 nhóm giải pháp đồng bộ mang tính khả thi để tiếp tục đẩy mạnh hội nhập văn hóa, hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Về ý nghĩa thực tiễn, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở luận cứ khoa học cho các cơ quan tham mưu của Đảng, cơ quan quản lý Nhà nước (như ngành văn hóa, tuyên giáo, đối ngoại) trong việc hoạch định chính sách, xây dựng chiến lược phát triển văn hóa và chiến lược ngoại giao văn hóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn đề tài thuộc chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử), luận án tập trung chủ yếu vào việc khái quát hóa các quy luật, phạm trù lý luận và phân tích thực trạng dưới góc độ quan điểm, chính sách tổng quát; chưa đi sâu khảo sát các khía cạnh định lượng, đo lường tác động xã hội học bằng số liệu điều tra thực địa quy mô lớn. Luận án cũng chủ động giới hạn phạm vi nghiên cứu từ năm 1986 đến năm 2018, tập trung vào phương thức hội nhập văn hóa mà không bao quát toàn bộ các phương diện lịch sử dân tộc học hay lý thuyết quan hệ quốc tế chuyên sâu.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các mô hình hội nhập văn hóa cụ thể tại các địa phương hoặc từng tiểu ngành văn hóa (như điện ảnh, xuất bản, mỹ thuật); áp dụng các phương pháp điều tra xã hội học thực nghiệm để định lượng mức độ tiếp biến văn hóa trong các nhóm công chúng khác nhau; hoặc nghiên cứu chuyên sâu về tác động của không gian mạng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quá trình hội nhập văn hóa của Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Triết học, Văn hóa học, Lý luận văn hóa nghệ thuật, Quản lý văn hóa và Xây dựng Đảng: nguồn tài liệu tổng quan phong phú ở Chương 1 và khung phân tích triết học ở Chương 2 cung cấp hệ thống khái niệm chuẩn mực về quy luật vận động văn hóa.
- Giảng viên giảng dạy các bộ môn Triết học Mác - Lênin, Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam: có thể khai thác các luận điểm phân tích về bản chất văn hóa, mối quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại, cơ chế đồng hóa và dị hóa trong tiếp biến văn hóa.
- Cán bộ quản lý văn hóa, cơ quan hoạch định chính sách, cơ quan ngoại giao văn hóa: có thể tham khảo Chương 3 và Chương 4 để nhận diện các thách thức về phản văn hóa, áp lực cạnh tranh văn hóa phẩm ngoại lai và ứng dụng hệ thống 5 giải pháp để xây dựng quy chế quản lý lễ hội, nhập khẩu văn hóa phẩm và quảng bá văn hóa dân tộc ra quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án quan niệm thế nào về khái niệm và bản chất của văn hóa?
Luận án xác định văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần (chân - thiện - mỹ) do con người sáng tạo hoặc tác động tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, nhằm định hướng đời sống phát triển tiến bộ, nhân văn. Về bản chất, văn hóa là "thiên nhiên thứ hai", là phương thức tồn tại đặc trưng phân biệt con người với động vật, thể hiện trình độ tự phát triển năng lực bản chất người trong việc cải tạo tự nhiên, xã hội và hoàn thiện bản thân.
2. Ba quy luật vận động và phát triển của văn hóa được trình bày trong luận án là gì?
Ba quy luật gồm: (1) Quy luật quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, trong đó kinh tế quy định sự phát triển văn hóa và văn hóa tác động trở lại kinh tế; (2) Quy luật kế thừa văn hóa, dựa trên nguyên lý phủ định biện chứng, liên kết quá khứ với hiện tại và tương lai thông qua chọn lọc, cải biến; (3) Quy luật giao lưu, tiếp nhận, tiếp biến các giá trị văn hóa mới giữa các dân tộc, khẳng định sự cô lập tất yếu dẫn đến suy thoái.
3. Vì sao tác giả coi hội nhập văn hóa là phương thức phát triển ưu trội?
Theo tác giả, văn hóa là tinh hoa dân tộc. Hội nhập văn hóa giúp lưu thông huyết mạch giữa các nền văn hóa. Thông qua cơ chế đồng hóa và dị hóa biện chứng, một nền văn hóa lành mạnh sẽ chủ động tiếp nhận những tinh chất của các nền văn hóa khác, biến ngoại lực thành nội sinh để làm giàu có và tiên tiến hóa chính mình, khắc phục tình trạng nghèo nàn, trì trệ nếu chỉ khép kín dựa vào giá trị bản địa.
4. Luận án chỉ ra những hạn chế chính nào của thực trạng hội nhập văn hóa tại Việt Nam?
Các hạn chế bao gồm: sự tiếp thu thiếu chọn lọc dẫn đến nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống; sức ép cạnh tranh gay gắt từ các sản phẩm văn hóa ngoại nhập; sự xâm nhập của các ấn phẩm, lối sống phản văn hóa; cùng với sự bảo thủ, chậm đổi mới trong tư duy quản lý văn hóa khiến hiệu quả hội nhập chưa tương xứng với tiềm năng.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp chủ yếu nào ở Chương 4?
Năm nhóm giải pháp gồm: nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; phát triển kinh tế, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ làm nền tảng nâng cao năng lực hội nhập; phát triển nhanh, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa; đa dạng hóa các hình thức hội nhập; và chủ động ngăn ngừa sản phẩm phản văn hóa kết hợp xóa bỏ hủ tục lạc hậu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ triết học của tác giả Đào Thu Hương là công trình nghiên cứu định tính có hệ thống về vai trò của hội nhập văn hóa đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Từ lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận án đã phân tích sâu sắc các quy luật vận động văn hóa, khẳng định hội nhập quốc tế là phương thức khách quan giúp hiện đại hóa văn hóa dân tộc và biến ngoại lực thành nội lực. Công trình đã phản ánh sát thực tế những thành tựu cùng nguy cơ thách thức trong giai đoạn từ năm 1986 đến nay, đồng thời định hình một hệ thống giải pháp đồng bộ phục vụ công tác nghiên cứu lý luận và quản lý thực tiễn văn hóa ở nước ta.