CHƯƠNG 1 NGUỒN GỐC HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA 1. VĂN HÓA PHƯƠNG ĐÔNG 1. Tư tưởng văn hóa Nho giáo Hồ chí Minh, nhà tư tưởng văn hóa của Thế giới, con người vĩ đại của dân tộc Việt Nam đã tiếp thu truyền thống văn hóa dân tộc thể hiện trong tư tưởng và nhiều câu chuyện Nho giáo của Người. Nhưng Người đã vượt qua những hạn chế của Nho giáo ra đi tìm đường cứu nước giải phóng dân tộc.
Người đã sáng lập và giáo dục Đảng ta với phương châm: “lấy dân làm gốc” làm tôn chỉ lãnh đạo nhân dân ta trong hai cuộc cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Nhân dân Việt Nam giành lại được độc lập và thống nhất đất nước bước vào thời kỳ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng và phát triển toàn diện đất nước theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên con đường đó nhằm mục đích tiến tới xây dựng một xã hội tốt đẹp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Chúng ta cần tiếp thu nhiều bài học Nho giáo về mặt tích cực khắc phục những hạn chế để mang lại nhiều điều hay ý tốt tạo thêm sức mạnh cho cách mạng Việt Nam tiến lên.
Nho giáo ảnh hưởng rất lớn đến đời sống gia đình, các phẩm chất, đạo đức của người phụ nữ, vẫn còn những quan điểm coi thường phụ nữ, lấy tiêu chuẩn tứ đức làm đầu “công, dung, ngôn, hạnh”. Người phụ nữ trở nên bị phong tỏa, dồn nén trong vòng tứ đức không phát huy được hết năng lực của mình. Truyền thống quan hệ cha - con và anh - em đến nay trong gia đình Việt Nam vẫn giữ được tư tưởng của nho giáo, là nét đẹp trong quan hệ văn hóa xã hội Việt Nam. Đòi hỏi có sự gắn bó chặt chẽ giữa các thành viên trong một gia đình thể hiện sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, khuyến khích nhau giữ gìn truyền thống văn hóa của gia đình.
Việc thờ cúng ông bà cha mẹ trong nhà Luan van 10 gắn liền với việc thờ cúng tổ tiên trong họ tộc, việc xây dựng nhà thờ, sửa sang mồ mả, sưu tầm ghi chép gia phả, đều góp phần làm khăng khít hơn các mối quan hệ trong xã hội. Sự giáo dục của Nho giáo lấy lễ nghĩa làm biện pháp đã đạt được tới mức độ sâu sắc ở chổ nó thành tiêu chuẩn để đánh giá hành vi của con người. Nho giáo đã huy động được dư luận toàn thể xã hội, biết quí trọng người có lễ và khinh gét người vô lễ và điều này đã đi vào sâu lương tâm của mỗi con người. Vi phạm lễ trở thành điều đau khổ, đáng sỉ nhục, thậm chí đến mức phải chết chứ không bỏ lễ.
Nền văn hóa đầu tiên mà Hồ Chí Minh tiếp nhận là Nho học. Đến tuổi thanh niên và suốt cả thời kỳ hoạt động cách mạng. Người luôn quan tâm nghiên cứu các giá trị phương Đông, trong các hệ tư tưởng cổ truyền, dễ nhận thấy Hồ Chí Minh nhắc nhiều tới Nho giáo trong các bài viết. Người đã đánh giá đúng vai trò của Nho giáo và người sáng lập ra nó là Khổng Tử và đặc biệt khai thác những mặt tích cực của tư tưởng Nho giáo.
Những mặt tích cực của Nho giáo: Nho giáo với hệ thống tư tưởng chính trị của mình đã góp phần xây dựng các nhà nước phong kiến trung ương, tập quyền vững mạnh, góp phần xây dựng một hệ thống quản lý thống trị xã hội chặt chẽ, nâng cao sức mạnh quân sự và kinh tế quốc gia. Nho giáo rất coi trọng trí thức, coi trọng học hành. Khổng Tử là người “học nhi bất yếm, hối nhân bất nguyện”. Hàng nghìn năm qua, nhà nước Việt Nam đều lấy Nho học - Nho giáo làm nền tảng lý luận để tổ chức nhà nước, pháp luật và đặc biệt là giáo dục.
Nội dung giáo dục của Nho giáo là dạy đức và dạy tài, coi trọng đức là coi trọng cách làm người, coi trọng con người là yếu tố quyết định. Giáo dục Nho giáo góp phần nâng cao văn hóa con người đặc biệt về văn hóa, sử học, triết học. Với phương châm học để có thể tìm ra Luan van 11 một nghề nghiệp mới và nâng cao vị trí xã hội của bản thân tạo động lực hiếu học trong nhân dân. Hiếu học là đặc điểm của Nho giáo, hiếu học đã trở thành truyền thống văn hóa Á Đông trong đó có Việt Nam.
Nho giáo hướng tới quảng đại quần chúng nhân dân vào việc học hành, tu dưỡng đạo đức theo Ngũ Thường “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín” làm cho xã hội ngày càng phát triển văn minh hơn. Nho giáo góp phần xây dựng mối quan hệ xã hội rộng rãi hơn, bền chặt hơn, có tôn ty trật tự vượt quá phạm vi cục bộ là các làng xã, thôn, ấp hướng tới tầm mức quốc gia, ngoài ra nó góp phần xây dựng mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, có tôn ty hơn… nhờ tuân theo Ngũ Luân “Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn-bè”. Nho giáo vốn đặt mối quan hệ vua tôi ở vị trí cao nhất trong năm quan hệ giữa người với người. Các Nho sĩ Việt Nam cũng nhấn mạnh mối quan hệ này, xây dựng tinh thần trung quân, ái quốc nhưng không mù quáng trung quân mà vẫn đặt ái quốc lên hàng đầu.
Họ đòi hỏi nhà vua trước hết phải trung thành với tổ quốc và trung hậu với nhân dân. Nhân nghĩa trong Khổng giáo là tình cảm sâu sắc, nghĩa vụ thiêng liêng của bề tôi đối với nhà vua, của con đối với cha, của vợ đối với chồng, nhưng đối với Nguyễn Trãi và các trí thức Việt Nam thì điều cốt yếu của nhân nghĩa là phải đem lại cho nhân dân cuộc sống thanh bình, và đội quân chính nghĩa phải nhằm tiêu diệt những quân tàn bạo. Nho giáo có nhiều yếu tố tích cực nên nó mới có sức sống mãnh liệt trong mấy ngàn năm. Những mặt tích cực của Nho giáo đó là triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, hành động giúp đời; đó là tư tưởng về một xã hội hòa bình, một thế giới “Đại đồng”; là triết lý nhân sinh, tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc.
Mặt khác, Nho giáo còn đề cao văn hóa lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học. Luan van 12 Mặt hạn chế của Nho giáo: Không như Nho giáo Trung Hoa, tuy không coi trọng thương nghiệp nhưng cũng không phản đối. Nho giáo Việt Nam quá coi trọng nông nghiệp, tư tưởng quan liêu, bảo thủ nên đã kìm hãm tính năng động, sáng tạo dẫn đến quan liêu, bảo thủ trong cả kinh tế lẫn chính trị. Nho giáo quá bảo thủ không tiếp thu những cái mới ưu việt hơn dẫn đến bị cái mới ưu việt hơn tiêu diệt.
Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm mà không hướng dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều tìm được, chinh phục thiên nhiên, vạn vật xung quanh. Điều này làm cho nền văn minh, khoa học tư nhiên, kỷ thuật sau một thời gian phát triển đã bị chững lại so với nền văn minh phương Tây vốn xuất hiện sau. Trong khi khai thác những "hạt nhân của Nho giáo” Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra những hạn chế lớn như: phân chia đẳng cấp, coi thường phụ nữ, khinh lao động chân tay. Khắc phục những khuyết điểm đó, trong điều kiện mới xã hội chủ nghĩa, người nêu rõ phải xây dựng nền văn hóa mới có chất lượng, nền văn hóa phải phục vụ nhân dân, kính trọng phụ nữ.
Có như vậy, qua việc sử dụng nhiều mệnh đề, thuật ngữ của Nho giáo, đã thể hiện rõ đạo đức Nho giáo ảnh hưởng rất lớn đến Hồ Chí Minh, người đứng trên lập trường của giai cấp công nhân, của dân tộc để tiếp cận học thuyết này, kế thừa những mặt tiến bộ tích cực, loại bỏ những yếu tố tiêu cực, không phù hợp, bổ sung nhiều yếu tố mới tạo nên một hệ thống giá trị văn hóa mới - văn hóa cách mạng. Tư tưởng văn hóa Phật giáo Đạo Phật truyền bá vào nước ta khoảng thế kỉ II sau công nguyên và đã trở thành một trong những hệ tư tưởng, tôn giáo có sức sống lâu dài, tồn tại cho đến ngày nay. Lịch sử Phật giáo trải qua bốn giai đoạn: Luan van 13 - Từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp. - Thời Đại Việt là giai đoạn cực thịnh.
- Từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ IXX là giai đoạn suy thoái. - Từ đầu thế kỷ XX đến nay là giai đoạn phục hưng. Trải qua một khoảng thời gian dài, Phật giáo ở Việt Nam không ngừng lớn mạnh, phát triển và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hình thành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam. Những ảnh hưởng tích cực của Phật giáo vẫn đang được con người Việt Nam phát huy để phục vụ cuộc sống.
Song bên cạnh đó, Phật giáo cũng có những ảnh hưởng tiêu cực. Ngày nay, mặc dù có rất nhiều tôn giáo tồn tại ở Việt Nam như Thiên chúa giáo, Tin lành. Nhưng Phật giáo vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và tinh thần con người Việt Nam. Số người theo đạo Phật ngày càng đông, số gia đình Phật tử xuất hiện ngày càng nhiều, lễ hội Phật giáo và sinh hoạt Phật giáo ngày một có vị trí cao trong đời sống tinh thần xã hội, số sư sãi được đào tạo từ các trường Phật học ngày càng nhiều, số kinh sách xuất bản hàng năm cũng tăng.
Đặc biệt, năm 2008, nước ta được vinh dự tổ chức đại lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc (từ ngày 14/05/2008 đến ngày 16/05/2008) với sự tham gia của hơn bảy mươi nước. Điều này có ý nghĩa to lớn với hội Phật giáo cũng như phật tử Việt Nam. Mặt tích cực của Phật giáo: - Đạo lý ảnh hưởng nhất là giáo lý từ bi, tinh thần hiếu hòa của Phật giáo đã ảnh hưởng và thấm nhuần sâu sắc trong tâm hồn của người Việt. Điều này ta thấy rõ qua những câu ca dao, tục ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng đều thuộc lòng.
Tinh thần thương người như thể thương thân này đã biến thành ca dao tục ngữ rất phổ biến trong quần chúng Việt Nam như “lá lành Luan van 14 đùm lá rách”. Đã hình thành được bản sắc đặc thù rất riêng biệt của nó tại Việt Nam, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa nền văn hóa tinh thần của dân tộc Việt.