CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học 1. Năng lực Lĩnh vực giáo dục trên toàn thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến khái niệm “năng lực”. Tác giả DeSeCo hiểu năng lực “là hệ thống các cấu trúc tinh thần bên trong và khả năng huy động các kiến thức, kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành và thái độ cảm xúc, giá trị đạo đức, động lực của một người để thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh cụ thể” [22].
Năng lực chính là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” như NL tư duy, NL tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh lí và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” như NL chuyên môn, NL lãnh đạo [7]. Theo Từ điển tiếng Việt: Năng lực là “phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [11]. Chương trình GDPT 2018 ghi rõ và giải thích: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các KT, KN và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loạt hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [2].
Từ những quan niệm trên, có thể hiểu NL là khả năng kết hợp linh hoạt kiến thức, kĩ năng với thái độ,.của một cá nhân để giải quyết một số tình huống có thực trong cuộc sống. Hay NL cũng chính là khả năng thực hiện nhiệm vụ dựa trên nền tảng tri thức sẵn có hoặc được rèn luyện từ quá trình học tập, trải nghiệm. Môn Khoa học trong chương trình GDPT mới góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất và NL chủ yếu cho HS. NL chung và NL đặc thù được hình thành và phát triển thông qua các chủ đề trong môn học và HĐ giáo dục; trong đó, NL đặc thù vừa là mục tiêu, vừa là kết quả trong các HĐ dạy học, giáo dục trong môn học; góp phần hình thành và phát triển các NL chung.
Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Trong chương trình GDPT 2018, dạy học các môn khoa học góp phần phát triển cho HS các NL đặc thù và nổi bật trong đó có NL khoa học được thể hiện qua 10 các thành tố: Nhận thức khoa học; Tìm hiểu tự nhiên và xã hội; Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học [2]. Theo Từ điển Tiếng Việt, “vận dụng” là đem tri thức - những kiến thức, lí luận vào thực tiễn; “kiến thức” là những điều hiểu biết có được do từng trải hoặc do học tập; còn “kĩ năng” là khả năng vận dụng những KT đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn [11]. NL VDKT, KN là “khả năng người học sử dụng những KT, KN trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. Qua đó thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình HĐ để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” [13].
HS có NL VDKT, KN tốt phải có khả năng tổng hợp và sử dụng KT, KN đã được học vào giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống. Do đó, NL VDKT, KN đã học là “khả năng người học sử dụng những KT, KN đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả và có khả năng biến đổi nó. NL VDKT, KN đã học thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình HĐ để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức” - theo tác giả Trịnh Lê Hồng Phương [12]. Nhóm tác giả Phan Thị Thanh Hội - Nguyễn Thị Tuyết Mai còn cho rằng: “NL VDKT, KN đã học là mức độ nhận thức cao nhất trong quá trình học tập của con người.
Do đó, dạy học ở nhà trường phổ thông không chỉ tập trung vào hình thành và phát triển KT cho người học mà quan trọng hơn là HS cần vận dụng được các KT, KN đã học” [5]. Như vậy, Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học được hiểu là khả năng người học vận dụng vốn hiểu biết đã học trên lớp hoặc học qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống một cách hiệu quả. NL VDKT, KN đã học thể hiện phẩm chất, hành vi của con người trong quá trình HĐ để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức. Cấu trúc năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học Các NL thành phần có trong NL VDKT, KN đã học được tác giả Hoàng Thị Thúy Hương tổng hợp như sau: NL hệ thống hóa KT; NL phân tích, tổng hợp các KT vận dụng vào thực tiễn cuộc sống; NL phát hiện các nội dung KT được ứng dụng trong các vấn đề ở các lĩnh vực khác nhau; NL phát hiện các vấn đề trong thực tiễn và sử dụng các KT để giải thích cụ thể và chính xác [8].
11 Theo Hà Thị Lan Hương, cấu trúc NL VDKT, KN đã học cho HS có thể được mô tả dưới dạng các tiêu chí [7] như sau: có khả năng tiếp cận vấn đề/ vấn đề thực tiễn; có KT về tình huống cần giải quyết; lập kế hoạch để giải quyết tình huống đặt ra; phân tích được tình huống, phát hiện được vấn đề đặt ra của tình huống; xác định và biết tìm hiểu các thông tin liên quan đến tình huống; đề xuất được giải pháp giải quyết tình huống; thực hiện giải pháp giải quyết tình huống và nhận ra sự phù hợp hay không phù hợp của giải pháp thực hiện. Dựa trên cơ sở các quan điểm và các tài liệu liên quan, căn cứ trên nội dung môn học và đặc điểm nhận thức của HS, đề tài xác định NL VDKT, KN đã học bao gồm các thành phần như sau: - Giải thích sự vật, hiện tượng và mối quan hệ xung quanh - Phân tích tình huống liên quan đến thực tiễn - Thực hiện GQVĐ và đề xuất hướng vận dụng mới Căn cứ vào bài viết của Phan Tấn Thương [16] trong dạy học, để hình thành NL VDKT, KN đã học cho HS, người GV cần tạo cơ hội, các điều kiện thuận lợi cho các em tham gia các HĐ thực tiễn nhằm phát triển NL. Điều này đồng nghĩa với việc HS vừa phải nắm được tri thức mới, vừa nắm được các phương pháp lĩnh hội tri thức đó; phát triển tư duy tích cực, chủ động, sáng tạo; chuẩn bị thích ứng với đời sống xã hội; phát hiện và vận dụng hợp lí các vấn đề nảy sinh. Phát triển NL VDKT, KN đã học cho HS là một hướng đi tích cực giúp HS rèn luyện khả năng phát hiện tình huống thực tiễn, áp dụng KT phù hợp.
Quá trình phát triển NL VDKT, KN đã học cho HS xuất phát từ việc HS biết ghi nhớ, nắm vững KT đã học; phát hiện vấn đề thực tiễn; bước đầu chỉ ra được mâu thuẫn, đặt các câu hỏi cho vấn đề liên quan. Đồng thời, HS cần biết huy động được các KT, kinh nghiệm đã có; phân tích và làm rõ được nội dung hay một tình huống, bài tập thực tế [16]. NL VDKT, KN đã học còn được thể hiện ở khả năng HS biết xử lí và lựa chọn được phương án giải quyết tối ưu trước một vấn đề, điều tra, khảo sát thực tế. để chứng minh; thực hiện GQVĐ; đề xuất một số ý tưởng mới về vấn đề thực tiễn đặt ra hoặc các vấn đề có liên quan; nhấn mạnh đến khả năng vận dụng thông qua việc HS được tạo ra sản phẩm sau khi đã có quá trình chiếm lĩnh tri thức.
Điều này không chỉ tác động đến nhận thức mà còn góp phần định hướng hành vi cụ thể. Ngoài ra, trong chương trình GDPT tổng thể [2] NL còn được biểu hiện qua việc HS nắm được KT cơ bản, biết giải thích ở mức độ đơn giản của một số vấn đề, quan điểm, sự vật, hiện tượng,. Phân tích được các tình huống liên quan đến vấn đề; Giải quyết được vấn đề trong tình huống; Biết trao đổi chia sẻ KT đã học với những 12 người xung quanh, thực hiện giải quyết tình huống thông qua VDKT, KN đã học. Từ đó cũng hình thành và phát triển ở HS những phẩm chất đáng quý.
Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của học sinh trong dạy học môn Khoa học 1. Các biểu hiện năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học của học sinh trong dạy học môn Khoa học Chương trình môn Khoa học trang bị cho HS những KT cơ bản, cốt lõi nhất về khoa học, công nghệ; góp phần củng cố những phẩm chất, NL trong môn học mà các em đã được học ở lớp trước; hình thành, phát triển những phẩm chất, NL chung và NL cơ bản về khoa học, tin học và công nghệ; phục vụ cho lao động và sản xuất thích ứng được với sự phát triển của xã hội; có KT và KN bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng; tinh thần trách nhiệm với môi trường sống; tình yêu quê hương, đất nước. Ngoài các NL chung, phải kể đến 3 NL đặc thù được hình thành trong môn học đó là: nhận thức về khoa học tự nhiên; tìm hiểu môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh; vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học. Trong đó, NL VDKT, KN đã học chính là mục tiêu và cũng là kết quả NL cần đạt của HS được biểu hiện qua [10]: - Hiểu được một số sự vật, hiện tượng và mối quan hệ trong tự nhiên cũng như trong thế giới sinh vật, bao gồm có cả thực vật, động vật, con người và các biện pháp để duy trì cơ thể khỏe mạnh.
- Áp dụng KT khoa học và KN từ các môn học khác có liên quan để giải quyết một số vấn đề thực tế đơn giản. - Phân tích tình huống và đưa ra các cách ứng xử phù hợp liên quan đến sức khoẻ bản thân, gia đình, cộng đồng và môi trường tự nhiên xung quanh; giao tiếp, chia sẻ và khuyến khích những người xung quanh cùng thực hiện.