Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ý Nhi (Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Khoa Vật lí, chuyên ngành Sư phạm Vật lí, khóa 2019 – 2023) được triển khai trong bối cảnh toàn ngành giáo dục thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Cơ sở pháp lý và định hướng chính sách trực tiếp của đề tài xuất phát từ các văn bản:

  • Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nhấn mạnh yêu cầu khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, chuyển trọng tâm sang dạy cách học, cách nghĩ và phát triển năng lực tự học.
  • Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.
  • Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Về bối cảnh thực tiễn, sau giai đoạn triển khai phương châm "tạm dừng đến trường nhưng không dừng việc học" do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, việc tiếp cận các nền tảng công nghệ và hệ thống học tập trực tuyến đã trở nên quen thuộc với cả giáo viên lẫn học sinh. Đồng thời, từ năm học 2021, việc tinh giản và tích hợp các chủ đề môn học tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đổi mới phương pháp giảng dạy. Trong chương trình môn Khoa học tự nhiên 6 (bộ sách "Kết nối tri thức với cuộc sống"), chương IX "Năng lượng" là nội dung có tính trực quan cao, gắn liền với các hiện tượng thực tế đời sống và phù hợp để tích hợp giáo dục phát triển bền vững, bảo vệ môi trường thông qua các dự án mở rộng ngoài không gian lớp học.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể: Đề xuất được tiến trình tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược và vận dụng vào tổ chức dạy học chương “Năng lượng” nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh.

Khóa luận đề ra 5 nhiệm vụ nghiên cứu đánh số theo văn bản:

  1. Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Năng lượng” – KHTN 6.
  2. Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học phát triển năng lực tự học của học sinh.
  3. Nghiên cứu cơ sở lí luận về mô hình lớp học đảo ngược.
  4. Xây dựng tiến trình hoạt động dạy học nội dung chương “Năng lượng” – KHTN 6 theo mô hình lớp học đảo ngược phát triển năng lực tự học của học sinh.
  5. Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá sự phát triển năng lực tự học của học sinh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học nội dung chương “Năng lượng” môn Khoa học tự nhiên 6 (bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống).
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào hoạt động dạy học chương “Năng lượng” theo mô hình lớp học đảo ngược có lồng ghép nội dung giáo dục môi trường.
  • Phạm vi không gian: Triển khai thực nghiệm sư phạm trên học sinh lớp 6/4 tại trường Trung học cơ sở Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 13/02/2023 đến ngày 10/04/2023 (năm học 2022 – 2023).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên sự kết hợp giữa lý luận về phát triển năng lực tự học trong môn Khoa học tự nhiên và mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom):

  • Bản chất năng lực và năng lực tự học: Tác giả tiếp cận định nghĩa năng lực từ Nguyễn Công Khanh và Đào Thị Oanh (2015), quan niệm tự học của Nguyễn Cảnh Toàn và Lưu Xuân Mới. Cấu trúc năng lực tự học được kế thừa từ nghiên cứu của Trương Thị Phương Chi, phân chia thành 4 năng lực thành tố cốt lõi: (1) Xác định mục đích học tập; (2) Lập kế hoạch tự học; (3) Tiến hành kế hoạch tự học; (4) Đánh giá, điều chỉnh hoạt động học.
  • Năng lực Khoa học tự nhiên: Khung năng lực gồm 3 thành tố: Nhận thức khoa học tự nhiên (mã hóa KHTN1), Tìm hiểu tự nhiên (KHTN2), và Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học (KHTN3).
  • Mô hình lớp học đảo ngược: Ra đời tại Mỹ từ những năm 1990 dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ E-learning. Tác giả vận dụng thang đo cấp độ tư duy của Bloom để xác định cấu trúc: các bậc nhận thức thấp (ghi nhớ, thông hiểu) được chuyển giao cho học sinh tự học ở nhà thông qua học liệu số hóa; thời gian trực tiếp tại lớp học được dành trọn vẹn cho việc phát triển các bậc nhận thức cao hơn (vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo). Nền tảng công nghệ quản trị được lựa chọn là Google Classroom.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp nghiên cứu lí luận: Thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên ngành về giáo dục học, lý luận dạy học vật lý và các mô hình sư phạm hiện đại.
  • Phương pháp điều tra, quan sát, nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng ý định học tập trực tuyến và điều kiện cơ sở vật chất trên mẫu $n = 63$ học sinh khối lớp 6 trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng phiếu hỏi qua Google Forms kết hợp phiếu giấy; phỏng vấn, trao đổi với giáo viên THCS và dự giờ quan sát hoạt động dạy học.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài giảng, tổ chức dạy học thực nghiệm tại lớp 6/4 và so sánh với lớp đối chứng tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm.
  • Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng phần mềm SPSS để kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach’s Alpha), phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho dữ liệu khảo sát thực trạng, và sử dụng kiểm định t-test độc lập (Independent Samples T-Test) để xử lý kết quả điểm số thực nghiệm.
  • Phương pháp chuyên gia: Lấy ý kiến nhận định, góp ý từ giảng viên và giáo viên bộ môn có trình độ chuyên môn cao.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu gồm dữ liệu điều tra thực trạng từ 63 học sinh khối 6, dữ liệu điểm số và phiếu đánh giá hành vi tự học của học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm trong học kỳ II năm học 2022 – 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học của học sinh

Chương này trình bày hệ thống cơ sở lý thuyết về năng lực tự học, bộ tiêu chí đánh giá năng lực tự học trong môn Khoa học tự nhiên, nguyên tắc tổ chức lớp học đảo ngược và báo cáo điều tra thực trạng:

Khía cạnh Lớp học truyền thống Lớp học đảo ngược
Hoạt động của giáo viên Hướng dẫn lý thuyết trên lớp; đánh giá; giao bài tập về nhà. Chia sẻ học liệu, video bài giảng cho học sinh tự học ở nhà; tổ chức thảo luận, hướng dẫn luyện tập và chốt kiến thức trên lớp.
Hoạt động của học sinh Nghe giảng thụ động; ghi chép; làm bài tập theo hướng dẫn tại nhà. Tự nghiên cứu bài giảng ở nhà; đến lớp thảo luận sâu, giải quyết vấn đề, hợp tác nhóm và nhận phản hồi trực tiếp.
Phân bổ thang tư duy Bloom Cung cấp mức ghi nhớ, thông hiểu tại lớp; yêu cầu tự vận dụng, phân tích bậc cao tại nhà. Tiếp thu mức ghi nhớ, thông hiểu tại nhà; rèn luyện mức vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo tại lớp học.

Về quy trình sư phạm, tác giả xây dựng mô hình 3 giai đoạn:

  1. Trước giờ lên lớp: Giáo viên thiết kế video bài giảng, chia sẻ học liệu và giao nhiệm vụ trên Google Classroom; học sinh theo dõi video, hoàn thiện phiếu KWL, sơ đồ tư duy và phiếu học tập.
  2. Trong giờ lên lớp: Giáo viên kiểm tra phiếu KWL, giải đáp vướng mắc, tổ chức hoạt động thí nghiệm/báo cáo; học sinh thảo luận nhóm, thực hiện giải quyết vấn đề và báo cáo sản phẩm.
  3. Sau giờ lên lớp: Học sinh ôn tập, làm bài kiểm tra củng cố trên Google Classroom và tự đánh giá; giáo viên giải đáp thắc mắc phát sinh và chuẩn bị bài học tiếp theo.

Kết quả khảo sát cơ sở vật chất phục vụ E-learning trên mẫu 63 học sinh khối 6:

  • Mức độ không đáp ứng: 0 học sinh (0%).
  • Mức độ đáp ứng tối thiểu: 12 học sinh (19,0%).
  • Mức độ vừa phải: 20 học sinh (31,8%).
  • Mức độ khá tốt: 16 học sinh (25,4%).
  • Mức độ rất tốt: 15 học sinh (23,8%).

Phân tích định lượng trên phần mềm SPSS về các yếu tố tác động đến ý định học trực tuyến (F_YD) trước khi đến lớp của học sinh:

  • Kiểm tra độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha): Nhận thức về lợi ích (0,927), Nhận thức dễ sử dụng (0,882), Nhận thức khó khăn (0,929), Mong muốn (0,833), Ý định sử dụng (0,891). Tất cả hệ số tương quan biến - tổng đều lớn hơn 0,3.
  • Phân tích nhân tố khám phá (EFA): Hệ số KMO đạt 0,844; kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa $Sig = 0,000$; trích được 5 nhân tố với giá trị Eigenvalue bằng 1,252; tổng phương sai trích đạt 75,691%.
  • Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến: Hệ số tương quan bội $R = 0,751$; hệ số xác định hiệu chỉnh $R^2 = 0,534$ (giải thích được 53,4% biến thiên của ý định học tập); thống kê $F = 18,746$ với $Sig = 0,000$.
  • Kết quả kiểm định các hệ số hồi quy:
Biến độc lập Ký hiệu Hệ số hồi quy chuẩn hóa ($\beta$) Giá trị $t$ Mức ý nghĩa ($Sig$) Đánh giá
Nhận thức về lợi ích F_LI ($X_1$) 0,259 2,076 0,042 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$)
Nhận thức dễ sử dụng F_SD ($X_2$) 0,308 2,554 0,013 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$)
Nhận thức khó khăn F_KK ($X_4$) -0,107 -1,181 0,242 Không có ý nghĩa thống kê ($p > 0,05$)
Mong muốn F_MM ($X_3$) 0,251 2,049 0,045 Có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$)

Phương trình hồi quy chuẩn hóa được xác lập: $Y = 0,259X_1 + 0,308X_2 + 0,251X_3$. Kết luận cho thấy các nhân tố nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức lợi ích và mong muốn tác động thuận chiều, có ý nghĩa thống kê đến ý định tự học trực tuyến trước giờ lên lớp của học sinh.

Chương 2: Thiết kế tiến trình dạy học chương “Năng lượng” môn KHTN 6 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

Chương 2 phân tích cấu trúc chương trình và thiết kế các kế hoạch bài dạy chi tiết. Cấu trúc chương IX "Năng lượng" thuộc SGK Khoa học tự nhiên 6 (bộ Kết nối tri thức với cuộc sống) có thời lượng phân bổ như sau:

Tên bài học Trang SGK Thời lượng
Bài 46: Năng lượng và sự truyền năng lượng 192 2 tiết
Bài 47: Một số dạng năng lượng 195 2 tiết
Bài 48: Sự chuyển hóa năng lượng 198 2 tiết
Bài 49: Năng lượng hao phí 201 1 tiết
Bài 50: Năng lượng tái tạo 203 1 tiết
Bài 51: Tiết kiệm năng lượng 206 1 tiết
Ôn tập chương IX 209 1 tiết

Tác giả thiết kế tiến trình chi tiết cho bài 46 "Năng lượng và sự truyền năng lượng" tích hợp hệ thống học liệu số hóa (video bài giảng đưa lên YouTube), hệ thống phiếu KWL và phiếu học tập. Chuỗi hoạt động trên lớp học được cụ thể hóa thành 5 hoạt động:

  • Hoạt động 1: Nhận xét phiếu KWL và giải đáp thắc mắc. Giáo viên tổng hợp các câu hỏi học sinh ghi nhận khi tự học ở nhà, tổ chức cho học sinh đối thoại và làm rõ khái niệm năng lượng, đơn vị jun (J).
  • Hoạt động 2: Thực hiện thí nghiệm kiểm chứng "Thổi xe đồ chơi" nhằm làm rõ mối quan hệ giữa năng lượng và tác dụng lực; học sinh làm việc theo 4 nhóm, sử dụng xe đồ chơi nhỏ và ống hút, đề xuất giải pháp để xe chuyển động xa và nhanh hơn.
  • Hoạt động 3: Báo cáo bài tập và sơ đồ tư duy; các nhóm trình bày kết quả tóm tắt nội dung về sự truyền năng lượng (qua truyền nhiệt và qua tác dụng lực).
  • Hoạt động 4: Báo cáo mô hình STEM "Thuyền dây chun"; học sinh vận dụng kiến thức về thế năng đàn hồi của dây chun để chế tạo mô hình thuyền từ que kem, trình bày nguyên lý hoạt động qua bài thuyết trình PowerPoint và vận hành thử nghiệm.
  • Hoạt động 5: Giao nhiệm vụ tự học về nhà cho bài tiếp theo trên nền tảng Google Classroom.

Kế hoạch bài dạy bài 48 "Sự chuyển hóa năng lượng" cũng được xây dựng tương tự với video bài giảng số hóa và hệ thống câu hỏi khám phá định luật bảo toàn năng lượng.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm:

  • Mục đích và nhiệm vụ: Đánh giá tính khả thi của quy trình dạy học đảo ngược đã thiết kế; đo lường sự biến chuyển về năng lực tự học và chất lượng tiếp thu kiến thức khoa học tự nhiên của học sinh lớp thực nghiệm (lớp 6/4) so với lớp đối chứng.
  • Tiến trình triển khai: Giáo viên chuyển giao video bài giảng và phiếu học tập qua Google Classroom trước buổi học; tổ chức giờ học trên lớp tập trung vào thí nghiệm, phản biện và báo cáo dự án; theo dõi và hướng dẫn các hoạt động tự học sau giờ lên lớp.
  • Đánh giá định tính: Quan sát sự chủ động trong việc lập kế hoạch, mức độ chuẩn bị bài, sự tự tin khi thuyết trình và khả năng làm việc nhóm của học sinh.
  • Đánh giá định lượng: Khóa luận lập bảng tần số, tần suất, tần suất tích lũy điểm kiểm tra của hai nhóm lớp, tiến hành so sánh giá trị trung bình và phân tích thống kê thông qua kiểm định T-test độc lập trên SPSS để xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kết quả học tập của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả định lượng và thực nghiệm:

  • Khảo sát thực trạng trên 63 học sinh đã xác định được 100% học sinh đáp ứng cơ sở vật chất từ mức tối thiểu trở lên để học tập E-learning (trong đó tỷ lệ đáp ứng từ mức vừa phải đến rất tốt chiếm 81,0%).
  • Xác lập được mô hình hồi quy đa biến với $R^2$ hiệu chỉnh $= 0,534$, chứng minh 3 nhân tố "Nhận thức dễ sử dụng" ($\beta = 0,308$), "Nhận thức về lợi ích" ($\beta = 0,259$) và "Mong muốn" ($\beta = 0,251$) có tác động thuận chiều, thúc đẩy ý định tự học trực tuyến trước giờ lên lớp.
  • Xây dựng hoàn chỉnh tiến trình dạy học cho các bài học trọng tâm của chương "Năng lượng" lớp 6 theo quy trình 3 giai đoạn (trước, trong và sau giờ lên lớp) kết hợp công cụ Google Classroom.
  • Dữ liệu điểm kiểm tra và kết quả kiểm định t-test chứng minh hiệu quả của việc vận dụng mô hình lớp học đảo ngược trong việc nâng cao kết quả học tập và năng lực tự học của học sinh nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng.

Về giải pháp và đề xuất sư phạm:

  • Đề xuất quy trình phối hợp công cụ công nghệ thông tin (Google Classroom, video bài giảng, biểu mẫu Google Forms) với các kỹ thuật dạy học tích cực (phiếu KWL, sơ đồ tư duy, thí nghiệm kiểm chứng, mô hình STEM tự chế).
  • Giáo viên cần phân hóa học liệu, xây dựng kịch bản video bài giảng ngắn gọn, cô đọng để học sinh không bị quá tải khi học ở nhà; đồng thời chú trọng thiết kế các tình huống có vấn đề và câu hỏi phân hóa ở các bậc tư duy cao trong giờ học trực tiếp.

Về đóng góp học thuật:

  • Cụ thể hóa bộ tiêu chí đánh giá năng lực tự học cho môn Khoa học tự nhiên cấp THCS với các chỉ báo hành vi và 3 mức độ đạt được (Không có, Chưa đầy đủ, Đầy đủ).
  • Cung cấp mô hình thiết kế bài học môn Khoa học tự nhiên 6 theo Chương trình GDPT 2018 có kiểm chứng thực nghiệm và dữ liệu phân tích định lượng cụ thể tại địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra các khó khăn và hạn chế trong quá trình thực hiện:

  • Đối với giáo viên: Việc thiết kế bài giảng video, chuẩn bị học liệu số và xây dựng kịch bản tương tác trên lớp đòi hỏi đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn so với soạn giáo án truyền thống. Giáo viên cũng đối mặt với thách thức trong việc thích ứng công nghệ và chuyển đổi hoàn toàn từ vai trò người truyền thụ kiến thức sang người điều phối, hướng dẫn.
  • Đối với học sinh và thiết bị: Trình độ công nghệ thông tin và điều kiện thiết bị kết nối ở nhà của học sinh không đồng đều. Một bộ phận học sinh chưa hình thành thói quen tự giác, dễ lơ là hoặc không hoàn thành việc nghiên cứu bài giảng trước khi đến lớp.
  • Về nội dung: Mô hình lớp học đảo ngược không phù hợp để áp dụng cho toàn bộ mọi dạng bài học mà đòi hỏi phải có sự chọn lọc nội dung phù hợp.
  • Về phạm vi thực nghiệm: Quá trình thực nghiệm mới được tiến hành trong phạm vi hẹp tại một lớp học (lớp 6/4) ở trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm trong thời gian từ ngày 13/02/2023 đến 10/04/2023.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là mở rộng quy mô thực nghiệm trên nhiều lớp học và nhiều trường THCS khác nhau, đồng thời đa dạng hóa học liệu số và nghiên cứu áp dụng cho các chủ đề khác trong môn Khoa học tự nhiên.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Sư phạm Vật lí, Sư phạm Khoa học tự nhiên và học viên cao học ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn: Có thể tham khảo phương pháp luận kết hợp nghiên cứu định lượng điều tra thực trạng (phân tích Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy trên SPSS) với thực nghiệm sư phạm.
  • Giáo viên Khoa học tự nhiên tại các trường THCS: Có thể trực tiếp sử dụng tiến trình dạy học bài 46 "Năng lượng và sự truyền năng lượng" và bài 48 "Sự chuyển hóa năng lượng", bảng tiêu chí chất lượng đánh giá chỉ số hành vi năng lực tự học, cũng như phương thức tổ chức hoạt động STEM chế tạo thuyền dây chun và quản lý học tập qua Google Classroom.

Câu hỏi thường gặp

1. Những nhân tố nào có ý nghĩa thống kê tác động đến ý định tự học trực tuyến trước giờ lên lớp của học sinh trong nghiên cứu?
Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính đa biến trên phần mềm SPSS cho thấy có 3 nhân tố tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$) đến ý định tự học trực tuyến (F_YD): "Nhận thức dễ sử dụng" ($\beta = 0,308$; $p = 0,013$), "Nhận thức về lợi ích" ($\beta = 0,259$; $p = 0,042$) và "Mong muốn" ($\beta = 0,251$; $p = 0,045$). Nhân tố "Nhận thức khó khăn" có $\beta = -0,107$ nhưng không có ý nghĩa thống kê do mức $Sig = 0,242 > 0,05$.

2. Thang đo cấp độ tư duy của Bloom được phân chia như thế nào giữa không gian ở nhà và trên lớp trong khóa luận?
Dựa trên thang nhận thức 6 bậc của Bloom, mô hình lớp học đảo ngược trong nghiên cứu phân chia: 3 mức độ nhận thức ban đầu là Ghi nhớ, Thông hiểu và Vận dụng thấp được học sinh tự lực thực hiện tại nhà qua tài liệu và video bài giảng giáo viên chuẩn bị sẵn; 3 mức độ tư duy bậc cao gồm Phân tích, Đánh giá và Sáng tạo được tập trung phát triển trong giờ học trực tiếp tại lớp thông qua các hoạt động thảo luận nhóm, giải quyết tình huống, thực hiện thí nghiệm và phản biện dự án.

3. Khung cấu trúc năng lực tự học được tác giả sử dụng gồm những thành tố nào?
Tác giả vận dụng khung lý thuyết của Trương Thị Phương Chi, xác định năng lực tự học cấu thành từ 4 thành tố: (1) Xác định mục đích học tập; (2) Lập kế hoạch tự học; (3) Tiến hành kế hoạch tự học; và (4) Đánh giá, điều chỉnh hoạt động học. Mỗi thành tố được đo lường thông qua các chỉ số hành vi cụ thể chia theo 3 mức độ chất lượng (M1, M2, M3).

4. Nội dung STEM thực hành nào được thiết kế trong tiến trình dạy học bài 46 "Năng lượng và sự truyền năng lượng"?
Trong hoạt động vận dụng và mở rộng của bài 46, học sinh làm việc theo nhóm để thiết kế và chế tạo mô hình "Thuyền dây chun". Dự án này yêu cầu học sinh sử dụng que kem làm mái chèo gắn với dây chun; khi xoắn dây chun, thế năng đàn hồi được tích lũy và khi giải phóng sẽ làm quay que kem, đẩy thuyền di chuyển trong nước. Các nhóm phải chuẩn bị bài thuyết trình PowerPoint, kèm hình ảnh, video hoạt động và báo cáo nguyên lý trước lớp.

5. Cơ sở vật chất phục vụ E-learning của học sinh khảo sát tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm đạt kết quả ra sao?
Trong số 63 học sinh khối 6 tham gia điều tra, 0% học sinh thuộc nhóm không đáp ứng; 19% (12 học sinh) đáp ứng ở mức tối thiểu; 31,8% (20 học sinh) đáp ứng ở mức vừa phải; 25,4% (16 học sinh) đáp ứng khá tốt; và 23,8% (15 học sinh) đáp ứng rất tốt. Kết quả này khẳng định hạ tầng thiết bị của học sinh đảm bảo tính khả thi để triển khai lớp học đảo ngược.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Ý Nhi đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô hình lớp học đảo ngược và năng lực tự học, đồng thời khảo sát định lượng điều kiện thực tiễn tại trường THCS Nguyễn Bỉnh Khiêm (Đà Nẵng). Đề tài đã xây dựng thành công tiến trình dạy học chương "Năng lượng" môn Khoa học tự nhiên 6 tích hợp nền tảng Google Classroom, học liệu video và các hoạt động thực hành, thí nghiệm kiểm chứng. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định mô hình lớp học đảo ngược góp phần nâng cao kết quả học tập và phát triển năng lực tự học cho học sinh, đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.