Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Phát triển năng lực trí tuệ của học sinh trong dạy học PTLG lớp 11 nâng cao. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề về phát triển năng lực trí tuệ của học sinh 1.
Khái niệm năng lực trí tuệ 1. Khái niệm năng lực Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở sự hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm của mỗi người. 303] Khi nói đến năng lực phải nói đến năng lực trong một loại hoạt động nhất định. Một người được coi là có năng lực nếu trong một hoàn cảnh nhất định người đó nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của một loại hoạt động nào đó và đạt kết quả cao hơn so với kết quả của những người khác.
Năng lực được nảy sinh và quan sát được trong hoạt động giải quyết những yêu cầu đặt ra. Năng lực chỉ được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và bằng hoạt động. Khái niệm trí tuệ Trong tiếng La Tinh, trí tuệ có nghĩa là hiểu biết, thông tuệ. Còn trong từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội 1994) giải thích: Trí tuệ là khả năng nhận thức lý tính đạt đến một trình độ nhất định.
Xét trong khoa học tâm lý học, có thể khái quát một cách tương đối các quan niệm đã có về khái niệm trí tuệ thành 3 nhóm chính: Nhóm thứ nhất định nghĩa trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân; Nhóm thứ hai định nghĩa trí tuệ là năng lực tư duy trừu tượng của cá nhân; Nhóm thứ ba coi trí tuệ là năng lực thích ứng tích cực của cá nhân. - Quan niệm thứ nhất đã có từ lâu và khá phổ biến. Theo nhà tâm lý học người Nga B.Ananhev, trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc lao động và học tập phụ thuộc vào nó. Mối quan hệ 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa học tập (đặc biệt là kết quả học tập) với khả năng trí tuệ cá nhân đã được các nhà sư phạm quan tâm từ lâu.
Các công trình nghiên cứu cho thấy giữa hai yếu tố này có mối quan hệ nhân quả với nhau nhưng không phải là quan hệ tương ứng 1-1. Năm 1905 nhà tâm lý học A.Binet (1857-1911) đã nghiên cứu bằng test trí lực và xác định được những HS học kém do khả năng trí tuệ và những em do lười hoặc do nguyên nhân khác.46] - Nhóm thứ 2 đã quy hẹp khái niệm trí tuệ vào các thành phần cốt lõi của nó là tư duy và gần như đồng nhất chúng với nhau. Trên thực tế, nhóm quan niệm này khá phổ biến bao gồm: A.46] - Nhóm thứ 3, coi trí tuệ là khả năng thích ứng của cá nhân được phổ biến hơn cả và thu hút nhiều nhà nghiên cứu lớn: U.Piagie( 1969) bất kỳ trí tuệ nào cũng là một sự thích ứng.Wechsler (1939) cho rằng trí tuệ là khả năng tổng thể để hoạt động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý, chế ngự được môi trường xung quanh. Trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới ( F.
Trí tuệ là khả năng hiểu các mối quan hệ sẵn có giữa các yếu tố của tình huống và thích nghi để thực hiện cho lợi ích bản thân ( N.47] Các quan niệm về trí tuệ không loại trừ nhau. Không có quan niệm nào chỉ chú ý đến duy nhất một khía cạnh năng lực tư duy hay khả năng thích ứng, mà thường đề cập đến hầu hết các nội dung đã nêu. Sự khác biệt về các quan niệm chỉ là ở chỗ khía cạnh nào được nhấn mạnh và nghiên cứu sâu hơn. Tuy nhiên để có cách hiểu bao quát về vấn đề khái niệm trí tuệ, cần lưu ý đến 4 đặc trưng của trí tuệ là: - Trí tuệ là yếu tố tâm lý có tính độc lập tương đối với các yếu tố tâm lý khác của cá nhân.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Trí tuệ có chức năng đáp ứng mối quan hệ tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống, tạo ra sự thích ứng tích cực của cá nhân. - Trí tuệ được hình thành và biểu hiện trong hoạt động của chủ thể. - Sự phát triển của trí tuệ chịu ảnh hưởng của yếu tố sinh học của cơ thể và chịu sự chế ước của các yếu tố văn hoá xã hội. Khái niệm năng lực trí tuệ Từ các khái niệm về năng lực và trí tuệ đã nêu ở trên ta có thể định nghĩa về NLTT như sau: NLTT là khả năng thực hiện có hiệu quả các hoạt động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc về lĩnh vực trí tuệ.
Mối quan hệ giữa dạy học và phát triển trí tuệ Dạy học và sự phát triển trí tuệ có mối quan hệ thống nhất biện chứng. Dạy học phải dẫn đến sự phát triển trí tuệ cho người học. Sự phát triển trí tuệ vừa là kết quả, vừa là tiền đề cho việc dạy học có hiệu quả. Tuy nhiên nói dạy học thống nhất với sự phát triển trí tuệ không có nghĩa là trình độ dạy học tương đồng hoặc ngang bằng với trình độ phát triển trí tuệ của người học.Vưgotxki: “Dạy học theo đúng chức năng của nó phải đi trước và kéo theo sự phát triển trí tuệ cho người học”.
Nếu dạy học đi sau hoặc ngang bằng với sự phát triển trí tuệ của người học sẽ kìm hãm lại sự phát triển trí tuệ. Do đó trong quá trình dạy học việc xác định đúng trình độ phát triển của HS là một việc làm vô cùng quan trọng của GV.Vưgotxki, cần thiết phải phân biệt hai trình độ trong suốt quá trình phát triển của HS: Trình độ phát triển hiện thời và khả năng phát triển gần nhất (vùng phát triển gần nhất). Trình độ phát triển hiện thời là trình độ mà ở đó các chức năng tâm lý đã đạt tới mức chín muồi, còn vùng phát triển gần nhất là vùng trong đó các chức năng tâm lý đang trưởng thành nhưng chưa chín. Trình độ phát triển hiện thời được biểu hiện qua tình huống HS có thể độc lập giải quyết nhiệm vụ, không cần sự trợ giúp từ bên ngoài.
Còn khả năng phát triển gần nhất biểu hiện qua tình huống HS hoàn thành nhiệm vụ khi có sự 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp tác giúp đỡ của người khác, mà nếu tự mình HS không thể thực hiện được. Dạy học đón đầu sự phát triển của HS nghĩa là phải tác động vào vùng phát triển gần nhất, hướng dẫn và tạo ra sự phát triển trí tuệ tối đa, đúng hướng ở người học.50] Nhưng như vậy không có nghĩa là nếu dạy học đón đầu sự phát triển của HS thì sẽ phát triển được trí tuệ của các em. Muốn làm được điều đó dạy học phải có sự định hướng đứng đắn, phù hợp. Nếu không dạy học sẽ làm cho trí tuệ không phát triển, thậm trí phát triển lùi lại hoặc rơi vào lối tư duy hình thức, thụ động, thiển cận.
Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực trí tuệ của học sinh Trong thời đại ngày nay, khoa học công nghệ đang phát triển rất nhanh và dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp trong nền kinh tế tri thức. Kho tàng tri thức của nhân loại gia tăng với tốc độ chóng mặt trong khi thời gian học tập tại nhà trường có hạn. Nhiệm vụ đặt ra cho dạy học hiện nay là phải nâng cao chất lượng học tập nhằm giúp HS có thể tự tìm kiếm tri thức, tự học suốt đời và bắt kịp nhịp sống của xã hội hiện đại. Hay nói cách khác dạy học không chỉ hướng vào việc cung cấp kiến thức lý thuyết mà quan trọng hơn, phải hình thành năng lực hoạt động trí tuệ, hình thành phẩm chất tư duy và phương pháp hoạt động cho người học.
Để giải quyết được bài toán trên, việc phát triển NLTT cho người học trở thành nhiệm vụ trọng tâm trong dạy học. Người GV cần chú trọng hình thành, rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo, bồi dưỡng các phẩm chất trí tuệ, rèn luyện khả năng suy nghĩ và giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống một cách nhạy bén cho HS. Trong dạy học cần chú trọng hình thành phương pháp học, phương pháp làm việc, rèn luyện các thuộc tính độc lập, sáng tạo, mềm dẻo của trí tuệ. Cần rèn luyện tính đa dạng, chiều rộng, chiều sâu của tư duy.
Có như vậy nhiệm vụ phát triển NLTT của người học mới đạt hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu trong thời kỳ mới. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các biện pháp phát triển trí tuệ của học sinh thông qua dạy học toán Môn toán có khả năng to lớn góp phần phát triển NLTT của HS. Mục tiêu này cần được thực hiện một cách có ý thức, có hệ thống, có kế hoạch chứ không phải tự phát.
Các biện pháp phát triển trí tuệ của HS thông qua dạy học Toán bao gồm: 1. Rèn luyện tư duy logic và ngôn ngữ Do đặc điểm của khoa học toán học, môn toán có tiềm năng quan trọng có thể khai thác để rèn luyện cho HS tư duy logic. Nhưng tư duy không thể tách rời ngôn ngữ, nó phải diễn ra với hình thức ngôn ngữ, được hoàn thiện trong sự trao đổi bằng ngôn ngữ của con người và ngược lại, ngôn ngữ được hình thành nhờ có tư duy. Vì vậy việc phát triển tư duy logic gắn liền với việc rèn luyện ngôn ngữ chính xác.
Việc phát triển tư duy logic và ngôn ngữ chính xác ở HS qua môn Toán có thể thực hiện theo 3 hướng liên quan chặt chẽ với nhau: - Thứ nhất: Làm cho HS nắm vững, hiểu đúng và sử dụng đúng những liên kết logic: và, hoặc, nếu thì, phủ định, những lượng từ tồn tại và khái quát… - Thứ hai: Phát triển khả năng định nghĩa và làm việc với những định nghĩa cho HS. - Thứ ba: Phát triển khả năng hiểu chứng minh, trình bày lại chứng minh và độc lập tiến hành chứng minh. Rèn luyện khả năng suy đoán và tưởng tượng Tác dụng phát triển tư duy của môn toán không những ở sự rèn luyện tư duy logic mà còn ở sự phát triển khả năng suy đoán và tưởng tượng.