phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị và đề xuất của luận án. Phần cuối luận án có Danh mục các công trình đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, Tài liệu tham khảo và Phụ lục. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực, năng lực sáng tạo 1.
Năng lực Năng lực là một khái niệm thuộc phạm trù tâm lí học. Trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực đã quan tâm nghiên cứu và có nhiều cách hiểu về khái niệm ―năng lực‖. Từ ―năng lực‖ trong các lĩnh vực khác nhau, trong những tình huống và những ngữ cảnh riêng biệt cụ thể thì có thể đƣợc sử dụng với nghĩa khác nhau. Trong tiếng Anh, một số từ có nghĩa NL nhƣ: Competency, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality,.
Tiếng Việt cũng có một số từ gần nghĩa với NL nhƣ tiềm năng, khả năng, kĩ năng,. Trong luận án, chúng tôi dùng từ có nghĩa NL trong tiếng Anh là Competency. Đến nay, trong các nghiên cứu, NL đƣợc tiếp cận và định nghĩa theo rất nhiều cách khác nhau. Năng lực có thể đƣợc tiếp cận từ bình diện của tâm lí học, hay tiếp cận từ bình diện giáo dục nghề nghiệp,.
Theo Mulder, Weigel & Collins [103, tr.59] có thể phân loại các nghiên cứu về NL theo ba quan điểm tiếp cận chính: quan điểm tiếp cận hành vi (the behaviourist), quan điểm tiếp cận chung (the generic) và quan điểm tiếp cận nhận thức (the cognitive).45] đã phân tích một loạt các định nghĩa về năng lực và kết luận: Xuyên qua các môn học “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người đủ điều kiện vươn tới một mục đích cụ thể.”, hay “Năng lực của HS là sự kết hợp hợp lí kiến thức, kĩ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề‖. Theo ông, NL gồm: NL chuyên môn, NL PP, NL xã hội, NL cá thể. Coolahan (UB Châu Âu 1996) cho rằng: NL đƣợc xem nhƣ là ―những khả năng cơ bản dựa trên cơ sở tri thức, kinh nghiệm, các giá trị và thiên hướng của một con người được phát triển thông qua thực hành giáo dục” [102, tr. Dựa trên tiếp cận ―học tập suốt đời‖, nhà tâm lý học Pháp Denyse Tremblay (2002) đã quan niệm: “Năng lực là khả năng hành động, đạt được thành công và chứng minh sự tiến bộ nhờ vào khả năng huy động và sử dụng hiệu quả nhiều nguồn lực tích hợp của cá nhân khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [97].
Tiếp cận theo hƣớng chức năng, chƣơng trình GDTH Québec-Bộ GD Canada (2004) quan niệm: “Năng lực có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu 10 quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài chẳng hạn như bạn cùng lớp, thầy cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác” [127]. Trong định nghĩa này, điểm nhấn đầu tiên chính là kết quả mà cá nhân đạt đƣợc thông qua hành động, sự lựa chọn hay cách thức cƣ xử trƣớc những yêu cầu liên quan tới vị trí nghề nghiệp, vai trò xã hội hay kế hoạch cá nhân cụ thể. Theo các tác giả, cách tiếp cận theo hƣớng chức năng nhƣ vậy có lợi thế là đặt ra sự ƣu tiên đối với những yêu cầu phức tạp và các thách thức mà cá nhân đối mặt trong bối cảnh công việc hay cuộc sống thƣờng nhật.
Giáo sƣ tâm lý học của Đại học Harvard (Mỹ) Howard Gardner đã phân tích 8 lĩnh vực trí năng của con ngƣời, bao gồm: ngôn ngữ, logic-toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức, hƣớng tới thiên nhiên [24]. Ông cho rằng, con ngƣời đều phải kết hợp nhiều lĩnh vực trí năng có liên quan với nhau để cùng giải quyết một vấn đề (problem) ―có thực‖ trong cuộc sống chứ không thể chỉ huy động duy nhất một mặt trí năng nào đó để giải quyết. Năng lực cá nhân của mỗi ngƣời đƣợc tạo thành chính từ sự kết hợp các lĩnh vực trí năng đó. Quan điểm của Gardner về NL thống nhất với các tác giả trên rằng: NL phải đƣợc thể hiện thông qua hoạt động, bằng hoạt động có kết quả (performance) và qua đó có thể ĐG hoặc đo đạc đƣợc [theo 61].
Nghiên cứu các tác phẩm về tâm lý học có liên quan đến vấn đề NL, Krutecxki (1980) đã tổng kết và đƣa ra quan điểm: Nói đến NL là phải nói đến NL trong một loại hoạt động nhất định của con ngƣời. Chỉ trên cơ sở phân tích một loại hoạt động nhất định nào đó ta mới có thể thấy đƣợc biểu hiện cụ thể của NL. Và nhƣ vậy, NL không những chỉ có thể đƣợc tồn tại và đƣợc thể hiện trong hoạt động, mà còn đƣợc hình thành và PT thông qua hoạt động [44]. Ở Việt Nam, từ NL có nghĩa gốc mà Từ điển Tiếng Việt đã nêu là: “a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; b) Phẩm chất tâm lý và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [60, tr.
Từ bình diện tâm lý học, Nguyễn Quang Uẩn (2005) quan niệm ―Năng lực là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả‖ [89, tr. Trong chƣơng trình GDPT tổng thể (2018), NL đƣợc quan niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học 11 tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Định nghĩa này thể hiện: NL là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của ngƣời học; NL là sự tích hợp của kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí (mà ngƣời học có đƣợc nhờ quá trình học tập, rèn luyện), …; NL đƣợc hình thành, PT thông qua hoạt động và thể hiện ở sự thành công trong hoạt động thực tiễn (là cái có thể quan sát, đo lƣờng).
Như vậy có thể thấy, cho dù cách phát biểu định nghĩa về NL có khác nhau nhƣng các tác giả đều cho rằng NL là khả năng thực hiện, biết làm và làm có hiệu quả. Nói tới NL là phải gắn với ý thức, thái độ, kiến thức, kĩ năng, sự hiệu quả. Các nghiên cứu đã thống nhất một số đặc điểm cơ bản của NL: +) Năng lực đƣợc xem là thuộc tính cá nhân của mỗi ngƣời, chỉ có thể thấy đƣợc thông qua hoạt động của cá nhân đó trong những tình huống cụ thể. Nhƣ vậy, ta có thể mô tả đƣợc NL đề cập theo những tiêu chuẩn, tiêu chí chất lƣợng và có thể tìm đƣợc minh chứng cho mức độ thể hiện này.
+) Năng lực không phải chỉ là bẩm sinh mà NL đƣợc hình thành và PT trong đời sống, trong hoạt động. +) Tri thức, kĩ năng là điều kiện cần thiết để hình thành và PT NL; NL góp phần cho quá trình lĩnh hội tri thức, kĩ năng trong lĩnh vực hoạt động nhất định đƣợc nhanh chóng, thuận lợi, dễ dàng; có NL hoạt động tức là có tri thức, kĩ năng trong lĩnh vực đó, nhƣng ngƣợc lại, có tri thức, kĩ năng không có nghĩa là có NL về lĩnh vực đó. +) Hai hình thức tồn tại chủ yếu của NL là NL chung và NL chuyên biệt. +) Năng lực có thể đƣợc bồi dƣỡng qua con đƣờng DH (bao gồm cả PT toàn diện các NL và bồi dƣỡng NL chuyên biệt).
Có thể quan niệm NL của ngƣời học là sự kết hợp giữa kiến thức, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng, để có thể học hỏi hoặc tổ chức, thực hiện thành công nhiệm vụ đặt ra. Những đặc điểm và mối quan hệ nói trên của NL đã định hƣớng con đƣờng hình thành, phát hiện và bồi dƣỡng NL (thông qua hoạt động) và ĐG NL (qua sự vận dụng kiến thức, kĩ năng trong những tình huống cụ thể ). Do đó, PT NL cho HS sẽ vừa là mục tiêu vừa là nhiệm vụ của DH. * Các năng lực chung cần PT cho HS THCS Các nƣớc OECD đã đƣa ra Khung năng lực của HS phổ thông gồm: - Năng lực liên môn (khả năng học các nội dung môn học, có kiến thức liên môn học); 12 - Năng lực linh hoạt, sáng tạo (khả năng học cách thức làm việc, có PP học, làm việc hiệu quả); - Năng lực sử dụng máy móc một cách thông minh; NL xã hội (khả năng giao tiếp, ứng xử); - Năng lực cá nhân (khả năng tự học, tự ĐG) (dẫn theo [72]).
Khung kĩ năng thế kỉ XXI cũng đƣa ra bốn nhóm kĩ năng: - Cách tư duy (sáng tạo và đổi mới, tƣ duy phê phán, GQVĐ, ra quyết định, học cách học); - Cách làm việc (giao tiếp, hợp tác); - Công cụ để làm việc (NL thu thập thông tin, CNTT&TT); - Cách chung sống trên thế giới (liên quan đến vấn đề công dân địa phƣơng và công dân toàn cầu, nhấn mạnh đến cuộc sống và công việc, cá nhân và trách nhiệm xã hội) [130]. Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Phƣơng (2009) cho rằng: việc phân loại NL phụ thuộc vào quan điểm và tiêu chí phân loại. Tác giả đã phân tích CT GDPT của một số nƣớc đƣợc xây dựng theo hƣớng tiếp cận NL và xác định có hai loại NL chính: NL chung và NL cụ thể, chuyên biệt [61]. Chƣơng trình GDPT tổng thể (2018) xác định: “Năng lực cốt lõi là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả.