phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học. Xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm nhằm phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học. Thực nghiệm sƣ phạm.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ HÓA HỌC 1. Xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học 1. Đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực Xu hƣớng giáo dục quốc tế hiện nay là DH định hƣớng kết quả đầu ra (hay là chƣơng trình giáo dục định hƣớng phát triển NL). Ở nƣớc ta, giáo dục phổ thông cũng đang thực hiện bƣớc chuyển từ chƣơng trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL, từ chỗ quá trình DH lấy GV làm trung tâm sang DH lấy HS làm trung tâm, quan tâm tới các NL mà HS đạt đƣợc khi kết thúc môn học.
Để thực hiện đƣợc điều đó thì trong DH hiện nay phải chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang DH lấy ngƣời học làm trung tâm – định hƣớng phát triển NL cho HS nghĩa là dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành, phát triển NL và phẩm chất, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS. Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang KT - ĐG NL vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề của HS, kết hợp KT - ĐG kết quả học tập với KT - ĐG thƣờng xuyên trong quá trình học tập để có tác động kịp thời, hiệu quả nhằm nâng cao chất lƣợng của hoạt động DH và giáo dục. Nhƣ vậy giáo dục phổ thông nƣớc ta có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, PP và cả trong KT - ĐG. Khái niệm và đặc điểm của năng lực a) Khái niệm về năng lực Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NL với nhiều cách tiếp cận.
NL theo từ điển Tiếng Việt thì là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” [20]. Từ lĩnh vực kinh tế học, dƣới các góc nhìn của các chuyên gia trong Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development) (2002), 9 F.Weinert cho rằng: “NL đƣợc thể hiện nhƣ một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con ngƣời đủ điều kiện vƣơn tới một mục đích cụ thể”. Theo nhà giáo dục ngƣời Mỹ Gardner Howard “NL phải đƣợc thể hiện thông qua hành động có kết quả và có thể đánh giá đo đạc đƣợc”. Nhà tâm lý học A.Rudich đƣa ra quan niệm về NL là: NL của con ngƣời không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu.
NL đó là năng khiếu đã đƣợc phát triển, có năng khiếu chƣa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành NL. Muốn vậy phải có môi trƣờng xung quanh tƣơng ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [24]. NL là: “Khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sẵn sàng hành động” [16]. Theo chƣơng trình phổ thông tổng thể ban hành năm 2018 thì “NL là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất có sẵn và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [6].
Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đƣa ra ở trên có thể hiểu NL nhƣ sau: NL là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,.để thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định. b) Đặc điểm của năng lực - NL không phải là cái có sẵn mà nó đƣợc hình thành và bồi đắp phát triển trong mọi quá trình hoạt động của con ngƣời. - NL là tổng hợp của các thuộc tính độc đáo của con ngƣời chứ không phải chỉ là một thuộc tính, đặc điểm nào tạo nên. 10 - Trong cùng công việc qua cách giải quyết công việc sẽ thể hiện NL của mỗi ngƣời.
- Trong mỗi lĩnh vực, tình huống riêng thì NL đƣợc hiểu từng nghĩa cụ thể. - NL chịu sự ảnh hƣởng của nhiều nhân tố khác nhau nhƣ môi trƣờng, con ngƣời. Cấu trúc chung của năng lực Có rất nhiều mô hình về cấu trúc NL với mỗi tác giả khác nhau lại có thể đƣa ra mô hình khác nhau. a) Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực Hình 1.
Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực Cấu trúc tảng băng về NL gồm ba tầng: tầng thứ nhất nổi trên bề mặt là tầng “Làm”, những gì mà cá nhân làm đƣợc, thực hiện đƣợc (hành vi). Tầng ở giữa là tầng “Suy nghĩ”, những kiến thức, kĩ năng, thái độ cùng với chuẩn, giá trị niềm tin là cơ sở quan trọng để phát triển tƣ duy, suy nghĩ… và nó cũng là điều kiện để phát triển NL, chúng ở dạng tiềm năng, không quan sát đƣợc. Tầng thứ ba là tầng “Mong muốn” ở sâu nhất, trong đó động cơ và tính tích cực của nhân cách có tính quyết định sự hình thành phát triển NL. Vì nếu cá nhân thực sự mong muốn, họ có thể đạt đƣợc những điều ở hai tầng trên; còn nếu họ không muốn thì dù có tƣ chất cũng không có thể hình thành [5].
Vậy từ cấu trúc này để hình thành phát triển NL cho HS GV cần hƣớng dẫn tổ chức nhiều hoạt động để các em thực hiện đi thực hiện lại, rèn luyện các kỹ năng NL, qua bài học giúp HS có đƣợc kiến thức, kĩ năng, thái độ, cách tƣ duy, suy nghĩ… đặc biệt GV phải giúp ngƣời học có nhu cầu, mong muốn của chính bản thân họ. 11 b) Mô hình cấu trúc năng lực hành động Hình 1. Mô hình cấu trúc năng lực hành động 1. Các năng lực hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học Hóa học Theo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể [6] đã xác định các NL cần hình thành và phát triển cho HS gồm hai loại là NL chung, NL đặc thù.
Những NL chung cần hình thành và phát triển cho HS là: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo và những NL chuyên môn của mỗi môn học. Các NL chuyên biệt của môn HH cần hình thành và phát triển là: NL SDNNHH, NL thực hành HH, NL giải quyết vấn đề thông qua môn HH, NL tính toán, NL vận dụng kiến thức HH vào cuộc sống. Ở đề tài này thì chúng tôi chủ yếu tập trung NC về phát triển NL SDNNHH cho HS. Phương pháp và hình thức đánh giá học sinh theo định hướng năng lực Đánh giá HS theo định hƣớng NL theo nhóm PP đánh giá: 1.
Đánh giá qua các bài kiểm tra GV có thể đƣa ra các bài kiểm tra với nhiều loại thời gian 15 phút, 45 phút, 90 phút,. tùy theo đề ra với hình thức có thể là trắc nghiệm khách quan, tự luận khách quan hay kết hợp cả hai hình thức để đánh giá mức độ đạt đƣợc mục tiêu và giúp GV, HS có những điều chỉnh trong việc DH của mình để đạt kết quả tốt hơn. Từ cách trình bày, làm bài, kết quả của HS thì GV sẽ đánh giá NL của HS. Để việc đánh giá chính xác hiệu quả thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị đề kiểm tra một cách kĩ lƣỡng về độ khó, chất lƣợng câu hỏi hay tỉ lệ các nội dung, đặc điểm đối tƣợng,.
đặc biệt đƣa các bài tập theo định hƣớng phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra. Đánh giá thông qua quan sát Đánh giá thông qua quan sát là GV sẽ quan sát HS trong các giờ học từ khả năng làm bài, thái độ, cách thức làm việc. từ đó có cái nhìn tổng quan về HS sẽ đánh giá đƣợc HS một cách chính xác đầy đủ hơn chứ không chỉ đánh giá qua kết quả mỗi bài kiểm tra của các em. Qua đánh giá thông qua quan sát thì GV thấy đƣợc những chỗ nào HS còn chƣa hiểu hay bị hổng về kiến thức hay gặp khó khăn trong quá trình học thì GV sẽ có những hỗ trợ kịp thời đúng lúc và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình dạy của mình.
Tự đánh giá Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS sẽ tự đánh giá bản thân đã làm đƣợc những gì, có đạt đƣợc mục tiêu mục đích hay chƣa. GV có thể đƣa ra các nhiệm vụ, các phiếu để HS tự xem mình đã hoàn thành đƣợc ở mức độ nào từ đó các em sẽ tự đánh giá đƣợc bản thân biết đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của mình và sẽ điều chỉnh việc học của mình nhằm để có kết quả tốt hơn. Đánh giá đồng đẳng Đánh giá đồng đẳng là hình thức mà HS sẽ đánh giá sản phẩm, công việc của HS khác. GV đƣa ra nhiệm vụ cho cá nhân hoặc nhóm hoạt động và phải nắm đƣợc rõ nội dung mà họ dự kiến sẽ đánh giá trong sản phẩm công việc của các bạn.
HS sẽ quan sát các bạn trong quá trình học tập từ đó sẽ có đƣợc thông tin chi tiết, cụ thể hơn so với thông tin của GV để đánh giá. HS sẽ dựa trên các tiêu chí đƣợc định trƣớc để đánh giá bạn khác. Những tiêu chí đó có thể do GV đƣa ra hoặc do cả GV và HS cùng thống nhất đƣa ra với nội dung dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của HS.