Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập thực nghiệm trong dạy học chương sắt và một số kim loại quan trọng

Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học nghiên cứu phát triển năng lực ngôn ngữ hóa học cho học sinh qua bài tập thực nghiệm về sắt và kim loại.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Sư phạm Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

146
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về năng lực ngôn ngữ hóa học

Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học (NL SDNNHH) là một yếu tố quan trọng trong việc học tập môn hóa học. Nó không chỉ giúp học sinh (HS) hiểu rõ các khái niệm hóa học mà còn phát triển tư duy phản biện và khả năng giải quyết vấn đề. Việc phát triển NL SDNNHH cho HS thông qua các bài tập thực nghiệm là một phương pháp dạy học hiệu quả. Theo nghiên cứu, việc sử dụng ngôn ngữ hóa học trong các hoạt động học tập giúp HS hình thành và củng cố kiến thức một cách sâu sắc hơn. Đặc biệt, trong chương trình học về kim loại, việc áp dụng các bài tập thực nghiệm không chỉ tạo hứng thú mà còn giúp HS vận dụng kiến thức vào thực tiễn. "Việc sử dụng bài tập thực nghiệm hóa học phối hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác nhau để phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học là rất cần thiết".

1.1. Khái niệm và vai trò của ngôn ngữ hóa học

Ngôn ngữ hóa học là hệ thống các thuật ngữ, ký hiệu và công thức được sử dụng trong lĩnh vực hóa học. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt kiến thức và thông tin trong môn học này. Việc hiểu và sử dụng đúng ngôn ngữ hóa học giúp HS không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển khả năng tư duy logic. "Ngôn ngữ hóa học không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện để HS thể hiện sự hiểu biết và khả năng phân tích của mình".

II. Phát triển năng lực ngôn ngữ hóa học qua bài tập thực nghiệm

Bài tập thực nghiệm là một trong những phương pháp dạy học hiệu quả nhằm phát triển NL SDNNHH cho HS. Các bài tập này không chỉ giúp HS thực hành mà còn tạo cơ hội để HS áp dụng lý thuyết vào thực tiễn. Việc thực hiện các thí nghiệm hóa học giúp HS hình thành các kỹ năng cần thiết như quan sát, phân tích và đánh giá. "Bài tập thực nghiệm hóa học không chỉ là công cụ để củng cố kiến thức mà còn là phương tiện để phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề". Thực nghiệm trong dạy học không chỉ giúp HS hiểu rõ hơn về các phản ứng hóa học mà còn tạo động lực học tập cho HS.

2.1. Lợi ích của bài tập thực nghiệm trong dạy học hóa học

Bài tập thực nghiệm mang lại nhiều lợi ích cho quá trình học tập của HS. Đầu tiên, nó giúp HS củng cố kiến thức lý thuyết thông qua việc thực hành. Thứ hai, HS có cơ hội phát triển các kỹ năng thực hành và tư duy phản biện. Cuối cùng, việc tham gia vào các hoạt động thực nghiệm tạo ra sự hứng thú và động lực học tập cho HS. "Việc tham gia vào các bài tập thực nghiệm giúp HS cảm nhận được sự thú vị của môn hóa học và khuyến khích các em tìm tòi, khám phá".

III. Phương pháp dạy học tích cực trong phát triển năng lực ngôn ngữ hóa học

Phương pháp dạy học tích cực là một trong những yếu tố quan trọng trong việc phát triển NL SDNNHH cho HS. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng các hoạt động nhóm, thảo luận và thực hành. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn phát triển khả năng làm việc nhóm và giao tiếp. "Phương pháp dạy học tích cực không chỉ giúp HS tiếp thu kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng mềm cần thiết cho tương lai".

3.1. Các phương pháp dạy học tích cực hiệu quả

Một số phương pháp dạy học tích cực có thể áp dụng trong dạy học hóa học bao gồm phương pháp bàn tay nặn bột, phương pháp dạy học theo góc và các hoạt động thực hành. Những phương pháp này khuyến khích HS tham gia tích cực vào quá trình học tập, từ đó phát triển NL SDNNHH một cách tự nhiên. "Việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực giúp HS không chỉ học hỏi mà còn phát triển tư duy sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề".

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ sư phạm hóa học phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học cho học sinh thông qua sử dụng hệ thống bài tập thực nghiệm trong dạy học chương sắt và một số kim loại quan trọng

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc dạy học phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học. Xây dựng và sử dụng bài tập thực nghiệm nhằm phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học. Thực nghiệm sƣ phạm.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ HÓA HỌC 1. Xu hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy học 1. Đổi mới giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực Xu hƣớng giáo dục quốc tế hiện nay là DH định hƣớng kết quả đầu ra (hay là chƣơng trình giáo dục định hƣớng phát triển NL). Ở nƣớc ta, giáo dục phổ thông cũng đang thực hiện bƣớc chuyển từ chƣơng trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận NL, từ chỗ quá trình DH lấy GV làm trung tâm sang DH lấy HS làm trung tâm, quan tâm tới các NL mà HS đạt đƣợc khi kết thúc môn học.

Để thực hiện đƣợc điều đó thì trong DH hiện nay phải chuyển từ PPDH theo lối “truyền thụ một chiều” sang DH lấy ngƣời học làm trung tâm – định hƣớng phát triển NL cho HS nghĩa là dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành, phát triển NL và phẩm chất, phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS. Đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về kiểm tra trí nhớ sang KT - ĐG NL vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề của HS, kết hợp KT - ĐG kết quả học tập với KT - ĐG thƣờng xuyên trong quá trình học tập để có tác động kịp thời, hiệu quả nhằm nâng cao chất lƣợng của hoạt động DH và giáo dục. Nhƣ vậy giáo dục phổ thông nƣớc ta có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, PP và cả trong KT - ĐG. Khái niệm và đặc điểm của năng lực a) Khái niệm về năng lực Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về NL với nhiều cách tiếp cận.

NL theo từ điển Tiếng Việt thì là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó; phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con ngƣời khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lƣợng cao” [20]. Từ lĩnh vực kinh tế học, dƣới các góc nhìn của các chuyên gia trong Hội nghị chuyên đề về những NL cơ bản của OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development) (2002), 9 F.Weinert cho rằng: “NL đƣợc thể hiện nhƣ một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con ngƣời đủ điều kiện vƣơn tới một mục đích cụ thể”. Theo nhà giáo dục ngƣời Mỹ Gardner Howard “NL phải đƣợc thể hiện thông qua hành động có kết quả và có thể đánh giá đo đạc đƣợc”. Nhà tâm lý học A.Rudich đƣa ra quan niệm về NL là: NL của con ngƣời không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu.

NL đó là năng khiếu đã đƣợc phát triển, có năng khiếu chƣa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành NL. Muốn vậy phải có môi trƣờng xung quanh tƣơng ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [24]. NL là: “Khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sẵn sàng hành động” [16]. Theo chƣơng trình phổ thông tổng thể ban hành năm 2018 thì “NL là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất có sẵn và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,.thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [6].

Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đƣa ra ở trên có thể hiểu NL nhƣ sau: NL là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,.để thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định. b) Đặc điểm của năng lực - NL không phải là cái có sẵn mà nó đƣợc hình thành và bồi đắp phát triển trong mọi quá trình hoạt động của con ngƣời. - NL là tổng hợp của các thuộc tính độc đáo của con ngƣời chứ không phải chỉ là một thuộc tính, đặc điểm nào tạo nên. 10 - Trong cùng công việc qua cách giải quyết công việc sẽ thể hiện NL của mỗi ngƣời.

- Trong mỗi lĩnh vực, tình huống riêng thì NL đƣợc hiểu từng nghĩa cụ thể. - NL chịu sự ảnh hƣởng của nhiều nhân tố khác nhau nhƣ môi trƣờng, con ngƣời. Cấu trúc chung của năng lực Có rất nhiều mô hình về cấu trúc NL với mỗi tác giả khác nhau lại có thể đƣa ra mô hình khác nhau. a) Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực Hình 1.

Mô hình tảng băng về cấu trúc năng lực Cấu trúc tảng băng về NL gồm ba tầng: tầng thứ nhất nổi trên bề mặt là tầng “Làm”, những gì mà cá nhân làm đƣợc, thực hiện đƣợc (hành vi). Tầng ở giữa là tầng “Suy nghĩ”, những kiến thức, kĩ năng, thái độ cùng với chuẩn, giá trị niềm tin là cơ sở quan trọng để phát triển tƣ duy, suy nghĩ… và nó cũng là điều kiện để phát triển NL, chúng ở dạng tiềm năng, không quan sát đƣợc. Tầng thứ ba là tầng “Mong muốn” ở sâu nhất, trong đó động cơ và tính tích cực của nhân cách có tính quyết định sự hình thành phát triển NL. Vì nếu cá nhân thực sự mong muốn, họ có thể đạt đƣợc những điều ở hai tầng trên; còn nếu họ không muốn thì dù có tƣ chất cũng không có thể hình thành [5].

Vậy từ cấu trúc này để hình thành phát triển NL cho HS GV cần hƣớng dẫn tổ chức nhiều hoạt động để các em thực hiện đi thực hiện lại, rèn luyện các kỹ năng NL, qua bài học giúp HS có đƣợc kiến thức, kĩ năng, thái độ, cách tƣ duy, suy nghĩ… đặc biệt GV phải giúp ngƣời học có nhu cầu, mong muốn của chính bản thân họ. 11 b) Mô hình cấu trúc năng lực hành động Hình 1. Mô hình cấu trúc năng lực hành động 1. Các năng lực hình thành và phát triển cho học sinh trong dạy học Hóa học Theo chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể [6] đã xác định các NL cần hình thành và phát triển cho HS gồm hai loại là NL chung, NL đặc thù.

Những NL chung cần hình thành và phát triển cho HS là: NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL giải quyết vấn đề và sáng tạo và những NL chuyên môn của mỗi môn học. Các NL chuyên biệt của môn HH cần hình thành và phát triển là: NL SDNNHH, NL thực hành HH, NL giải quyết vấn đề thông qua môn HH, NL tính toán, NL vận dụng kiến thức HH vào cuộc sống. Ở đề tài này thì chúng tôi chủ yếu tập trung NC về phát triển NL SDNNHH cho HS. Phương pháp và hình thức đánh giá học sinh theo định hướng năng lực Đánh giá HS theo định hƣớng NL theo nhóm PP đánh giá: 1.

Đánh giá qua các bài kiểm tra GV có thể đƣa ra các bài kiểm tra với nhiều loại thời gian 15 phút, 45 phút, 90 phút,. tùy theo đề ra với hình thức có thể là trắc nghiệm khách quan, tự luận khách quan hay kết hợp cả hai hình thức để đánh giá mức độ đạt đƣợc mục tiêu và giúp GV, HS có những điều chỉnh trong việc DH của mình để đạt kết quả tốt hơn. Từ cách trình bày, làm bài, kết quả của HS thì GV sẽ đánh giá NL của HS. Để việc đánh giá chính xác hiệu quả thì đòi hỏi GV phải chuẩn bị đề kiểm tra một cách kĩ lƣỡng về độ khó, chất lƣợng câu hỏi hay tỉ lệ các nội dung, đặc điểm đối tƣợng,.

đặc biệt đƣa các bài tập theo định hƣớng phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra. Đánh giá thông qua quan sát Đánh giá thông qua quan sát là GV sẽ quan sát HS trong các giờ học từ khả năng làm bài, thái độ, cách thức làm việc. từ đó có cái nhìn tổng quan về HS sẽ đánh giá đƣợc HS một cách chính xác đầy đủ hơn chứ không chỉ đánh giá qua kết quả mỗi bài kiểm tra của các em. Qua đánh giá thông qua quan sát thì GV thấy đƣợc những chỗ nào HS còn chƣa hiểu hay bị hổng về kiến thức hay gặp khó khăn trong quá trình học thì GV sẽ có những hỗ trợ kịp thời đúng lúc và có sự điều chỉnh phù hợp trong quá trình dạy của mình.

Tự đánh giá Tự đánh giá là một hình thức đánh giá mà HS sẽ tự đánh giá bản thân đã làm đƣợc những gì, có đạt đƣợc mục tiêu mục đích hay chƣa. GV có thể đƣa ra các nhiệm vụ, các phiếu để HS tự xem mình đã hoàn thành đƣợc ở mức độ nào từ đó các em sẽ tự đánh giá đƣợc bản thân biết đƣợc điểm mạnh, điểm yếu của mình và sẽ điều chỉnh việc học của mình nhằm để có kết quả tốt hơn. Đánh giá đồng đẳng Đánh giá đồng đẳng là hình thức mà HS sẽ đánh giá sản phẩm, công việc của HS khác. GV đƣa ra nhiệm vụ cho cá nhân hoặc nhóm hoạt động và phải nắm đƣợc rõ nội dung mà họ dự kiến sẽ đánh giá trong sản phẩm công việc của các bạn.

HS sẽ quan sát các bạn trong quá trình học tập từ đó sẽ có đƣợc thông tin chi tiết, cụ thể hơn so với thông tin của GV để đánh giá. HS sẽ dựa trên các tiêu chí đƣợc định trƣớc để đánh giá bạn khác. Những tiêu chí đó có thể do GV đƣa ra hoặc do cả GV và HS cùng thống nhất đƣa ra với nội dung dễ hiểu, phù hợp với khả năng nhận thức của HS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Phát triển năng lực ngôn ngữ hóa học cho học sinh qua bài tập thực nghiệm trong dạy học kim loại" tập trung vào việc nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ hóa học của học sinh thông qua các bài tập thực nghiệm. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp lý thuyết và thực hành trong giảng dạy, giúp học sinh không chỉ hiểu sâu về kim loại mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và tư duy phản biện. Bài viết cung cấp những phương pháp cụ thể để giáo viên có thể áp dụng trong lớp học, từ đó tạo ra môi trường học tập tích cực và hiệu quả.

Nếu bạn quan tâm đến việc phát triển năng lực tư duy cho học sinh, hãy tham khảo bài viết Dạy học khám phá chủ đề hình học trực quan lớp 6 theo hướng phát triển năng lực tư duy lập luận toán học. Ngoài ra, để tìm hiểu thêm về phương pháp giảng dạy sáng tạo, bạn có thể xem bài viết Luận văn thạc sĩ dạy học viết sáng tạo cho học sinh tiểu học. Cuối cùng, nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về phát triển năng lực tư duy cho học sinh trung học cơ sở, hãy đọc bài viết Luận văn thạc sĩ phát triển năng lực tư duy và lập luận toán cho học sinh thcs. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại.