Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Vấn đề phát triển năng lực được đề cập rất nhiều trên thế giới, đây là vấn đề không mới nhưng vẫn đang và sẽ được quan tâm nhiều hơn nữa. Boyatzis et al.
và Whetten & Cameron (1995) cho rằng phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan [dẫn theo 22]. Để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là những kết quả đầu ra (outputs). Từ những kết quả đầu ra này, đi đến xác định những vai trò của người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này. [3] Việc chú trọng vào nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới.
Tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại Mỹ vào những năm 1970, các tiếp cận về năng lực đã phát triển một cách mạnh mẽ trên một nấc thang mới trong những năm 1990 với hàng loạt các tổ chức có tầm cỡ quốc gia ở Mỹ, Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales,. Tiếp cận năng lực còn tạo khả năng cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những năng lực cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch định chính sách giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh [14]. Gervais (2016) đã đưa ra một định nghĩa về giáo dục dựa trên năng lực như sau: “Giáo dục dựa trên năng lực được định nghĩa như là một hướng tiếp cận dựa vào kết quả đầu ra của người học (outcome - based education), kết hợp chặt chẽ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn giữa các phương thức giảng dạy và hình thức đánh giá được thiết kế nhằm đánh giá việc học của HS thông qua việc thể hiện kiến thức, thái độ, giá trị, kỹ năng và hành vi của chúng đối với yêu cầu đề ra ở mỗi trình độ [dẫn theo 22].
Ở Việt Nam Tác giả Lê Đình Trung - Phan Thị Thanh Hội (2016) nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận năng lực người học. Các tác giả đã trình bày những nét khái quát về năng lực và dạy học theo tiếp cận năng lực, các năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho các môn học: Toán học, Vật lí, Sinh học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, mang tính đại diện. Trên cơ sở đó trình bày quy trình, các biện pháp, phương pháp cách thức tổ chức quá trình dạy học để hình thành phát triển các năng lực chung và năng lực chuyên biệt ở nhà trường phổ thông [23]. Tác giả Nguyễn Thị Thế (2014) đã đưa ra phương pháp dạy học nội dung “Nguyên hàm” theo hướng tiếp cận năng lực, tạo cơ hội cho HS rèn luyện năng lực thực hành, phân tích, tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực tự học [19].
Theo [2], tác giả làm rõ những điểm khác nhau giữa dạy học định hướng nội dung và dạy học phát triển năng lực, phẩm chất người học; các phẩm chất và năng lực quan trọng cần phát triển cho học sinh phổ thông cùng với việc tổ chức các hoạt động dạy học để phát triển các phẩm chất, năng lực. Tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa (2017), đề xuất tiến trình dạy học theo tiếp cận NL: Tình huống xuất phát/câu hỏi nêu vấn đề; Giúp HS bộc lộ ý tưởng ban đầu; Đề xuất phương án thực hành/giải quyết vấn đề; Tiến hành giải quyết vấn đề; Kết luận, hợp thức hoá kiến thức [20]. Tác giả Phạm Đức Quang (2014), đã tìm hiểu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về dạy học theo định hướng hình thành, phát triển năng lực người học. Cụ thể, tác giả đã sơ lược về dạy học theo định hướng hình thành và phát triển NL người học ở New Zealand, hàn Quốc, Hoa Kì, … và qua đó đề xuất một số biện pháp dạy học tiếp cận năng lực người học [16].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Các tác giả Lê Thị Thu Hà, Đoàn Anh Chung (2018) đã nghiên cứu về việc vận dụng lý thuyết đa trí tuệ trong đánh giá học sinh tiểu học theo tiếp cận năng lực. Cụ thể, các tác giả đã trình bày ý nghĩa của việc vận dụng thuyết đa trí tuệ trong đánh giá HS, việc vận dụng vào trong cách đưa ra lời nhận xét khi đánh giá thường xuyên, … [8]. Tác giả Vũ Quốc Chung (2018) đã nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận NL và thiết kế một số kế hoạch bài học theo tiếp cận NL trong dạy học môn Toán ở trường tiểu học. Tuy nhiên, những kế hoạch bài học đó được thiết kế theo nhóm nội dung, không đi vào thiết kế các bài học chi tiết, cụ thể [7].
Tác giả Nguyễn Hữu Hợp (2018), khi nghiên cứu về dạy học theo tiếp cận NL đã đưa ra những gợi ý và hướng dẫn được thực hiện về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học [10]. Tác giả Đỗ Đức Thái và cộng sự (2018) đề cập đến một số lý luận về dạy học theo tiếp cận NL, quy trình dạy học theo tiếp cận NL, hướng dẫn dạy học phát triển NL học sinh ở một số dạng bài, chủ đề trong môn Toán [18]. Qua tổng quan kết quả nghiên cứu chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nghiên cứu nào về dạy học phát triển NL HS đối với chủ đề Số tự nhiên ở lớp 1. Khái niệm Có rất nhiều những quan niệm khác nhau về năng lực.
Một số nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới quan niệm như sau: Tác giả Weinert (2001) cho rằng “Năng lực được thể hiện như một hệ thống khả năng, sự thành thạo hoặc những kĩ năng thiết yếu, có thể giúp con người có đủ điều kiện để vươn tới một mục đích cụ thể” [6]. Các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước thì quan niệm về năng lực như Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn sau: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó” [8]. Theo Từ điển tiếng Việt: “Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [15]. Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể xác định “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt được kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [5]. Như vậy, quan niệm về NL trong [5] được hiểu: - NL là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện của người học. - NL là sự huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. - NL được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở việc thực hiện thành công một loại hoạt đông nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Trong luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm về NL được đưa ra trong Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể ban hành tháng 7 năm 2017. Một số đặc điểm của năng lực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn - Tính tích hợp của năng lực: Năng lực thể hiện sự tổng hợp các yếu tố kiến thức, kĩ năng, động cơ, thái độ, ý chí,. trong hoạt động của con người. - Năng lực chỉ có thể quan sát được thông qua các hoạt động cá nhân và tình huống nhất định.
- Năng lực có thể phân thành: Năng lực chung và năng lực chuyên biệt. + Năng lực chung là những năng lực cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả trong nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội. Năng lực này cần thiết cho tất cả mọi người. + Năng lực chuyên biệt: Chỉ cần thiết đối với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định.
Các năng lực chuyên biệt không thể thay thế các năng lực chung. - Năng lực được hình thành và phát triển ở trong và ngoài nhà trường. Nhà trường được coi là môi trường chính thức giúp học sinh có được những năng lực chung cần thiết song đó không phải là nơi duy nhất. Những bối cảnh không gian không chính thức như: Gia đình, cộng đồng, phương tiện thông tin đại chúng, tôn giáo, môi trường văn hóa, … góp phần bổ sung, hoàn thiện năng lực cá nhân.
- Năng lực và các thành tố của nó không bất biến mà có thể thay đổi từ năng lực sơ đẳng, thụ động tới các năng lực bậc cao mang tính tự chủ cá nhân. Vì vậy, để xem xét năng lực của một cá nhân nào đó chúng ta không chỉ nhằm tìm ra các nhân đó có những thành tố năng lực nào mà còn phải chỉ ra mức độ của những năng lực đó. Đỉnh cao nhất của năng lực là cá nhân có khả năng tự chủ cao trong mọi hoạt động. - Năng lực được hình thành và cải thiện liên tục trong suốt cuộc đời con người vì sự phát triển năng lực về thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức hành động của cá nhân chứ không chỉ đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ.
Do đó, năng lực có thể bị yếu hoặc mất đi nếu như chúng không được sử dụng một cách tích cực và thường xuyên. - Các thành phần của năng lực chung thường đa dạng vì chúng được quy định tùy theo yêu cầu kinh tế, xã hội và đặc điểm văn hóa của quốc gia, dân tộc Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn và địa phương. Mô hình cấu trúc của năng lực Để hình thành và phát triển năng lực, cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng.