CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề chung về năng lực 1. Khái niệm năng lực Xét về nguồn gốc tiếng La tinh, năng lực (competence) là “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ.
Trong tiếng Anh, tuỳ từng trường hợp cụ thể, khái niệm năng lực được sử dụng với những nét nghĩa khác nhau, đều liên quan đến năng lực, ví dụ như: Competence, Ability, Capability, Efficiency, Capacity, Potentiality, Aptitude… Trong số đó, được sử dụng phổ biến nhất vẫn là Competence (hoặc Competency). Trong tiếng Việt, có một số từ gần nghĩa với từ “năng lực”: tiềm năng, khả năng, kĩ năng, tài năng,…Theo Từ điển Tiếng Việt, tiềm năng là “khả năng, năng lực tiềm tàng” nghĩa là khả năng ở trạng thái tiềm tàng, ẩn giấu bên trong, chưa bộc lộ ra, chưa phải là hiện thực. Khả năng có thể hiểu là “cái có thể xuất hiện, có thể xảy ra trong điều kiện nhất định; cái vốn có về vật chất hoặc tinh thần để có thể làm được việc gì”. Kĩ năng là “khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn”.
Tài năng là “năng lực xuất sắc, khả năng làm giỏi và có sáng tạo một việc gì”. Theo Từ điển tiếng Việt, “Năng lực là khả năng, là điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó”; hay “Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí.để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định”. [16] Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả như mong muốn trong những điều kiện cụ thể. [6] Trong “Giáo trình kiểm tra, đánh giá trong giáo dục”, tác giả Nguyễn 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công Khanh, Đào Thị Oanh cho rằng “Năng lực của HS là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ.
phù hợp với lứa tuổi và vận hành chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả các vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống”. [12] Như vậy, chúng ta thấy có rất nhiều cách để định nghĩa về năng lực. Vậy bản chất của năng lực là sự tổ hợp của các thành tố kiến thức – kĩ năng – thái độ của một cá nhân trong mỗi hoạt động nhất định, giúp thực hiện một cách có hiệu quả hoạt động đó. Năng lực không tự sinh ra mà được hình thành, phát triển trong quá trình sống, thông qua hoạt động và bằng hoạt động.
Năng lực vừa là điều kiện vừa là sản phẩm của hoạt động. Nếu con người chưa hoạt động thì năng lực vẫn còn tiềm ẩn, chưa được bộc lộ ra. Muốn năng lực tồn tại khi và chỉ khi con người tiến hành hoạt động. Kết quả đạt được, chất lượng của công việc là thước đo để đánh giá năng lực của chủ thể làm ra nó.
Năng lực của mỗi con người không có sẵn mà nó được nhìh thành và phát triển trong quá trình chúng ta thực hiện hoạt động, giao tiếp. Cấu trúc năng lực Để hình thành và phát triển năng lực, chúng ta cần xác định cấu trúc của năng lực bao gồm những thành phần nào và mối quan hệ giữa chúng. Theo các nhà sư phạm người Đức, cấu trúc năng lực được chia làm 4 thành phần cơ bản: - Năng lực chuyên môn (Professional competency): khả năng thực hiện, đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn một cách độc lập, có PP khoa học và chính xác về chuyên môn, trong đó bao gồm cả khả năng tư duy lô gíc, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, nhận biết các mối quan hệ trong hệ thống và quá trình. Năng lực chuyên môn hiểu theo nghĩa hẹp là năng lực “nội dung chuyên môn”, theo nghĩa rộng bao gồm cả năng lực PP chuyên môn.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Năng lực phương pháp (Methodical competency): khả năng định hướng mục tiêu và xây dựng kế hoạch trong việc giải quyết và xử lí các vấn đề. Năng lực này bao gồm: năng lực PP chung và năng lực PP chuyên môn. - Năng lực xã hội (Social competency): là khả năng thực hiện để đạt được mục tiêu trong những tình huống xã hội nhất định, có sự chi phối từ những yếu tố xã hội xung quanh trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. - Năng lực cá thể (Individual competency): khả năng xác định, đánh giá giới hạn của bản thân, xây dựng kế hoạch và thực hiện các phương pháp nhằm phát triển bản thân (phát triển năng khiếu cá nhân, quan điểm, đạo đức, hành vi ứng xử của mỗi cá thể).
Có thể khái quát cấu trúc của năng lực bằng sơ đồ dưới đây: Hình 1. Cấu trúc năng lực Năng lực chuyên môn Năng Năng lực lực cá NĂNG LỰC phương thể pháp Năng lực xã hội Trong mỗi lĩnh vực đời sống hay nghề nghiệp khác nhau sẽ có mô hình cấu trúc năng lực sẽ có đặc điểm khác nhau tương ứng với đặc trưng của lĩnh vực hay ngành nghề đó. Từ đó, giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm đến phát triển năng lực chuyên môn mà còn bao gồm cả năng lực PP, năng lực xã 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội, năng lực cá thể. Các thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau, không tách rời, năng lực này sẽ là cơ sở để hình thành năng lực kia.
Các thành phần này của năng lực có sự tương ứng với những trụ cột của giáo dục do UNESCO đề xuất: Học để biết (tương ứng với năng lực chuyên môn); học để làm (tương ứng với năng lực phương pháp); học để chung sống (tương ứng với năng lực xã hội); học để khẳng định mình (tương ứng với năng lực cá thể). Phân loại năng lực Để phân loại năng lực, chúng ta có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Trong đó, cách phân loại năng lực thành 2 nhóm: năng lực chung và năng lực chuyên biệt là cách phân loại phổ biến hơn cả. Theo Dự thảo Chương trình Giáo dục phổ thông Giáo dục tổng thể [6], có thể khái quát những năng lực chung cơ bản bằng sơ đồ dưới đây: Hình 1.
Năng lực chung (general competence) Năng lực giao tiếp Năng lực Năng Năng chung lực lực tự (General hợp học competence) tác Năng lực giải quyết vấn đề Năng lực chung (General competence) là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làm việc trong xã hội. Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học, là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau. Mỗi năng lực chung đều có những đặc điểm cơ bản khác nhau. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đặc điểm cơ bản của một số năng lực chung Năng lực Đặc điểm cơ bản chung Năng lực Là năng lực biểu hiện thông qua việc phát hiện và làm rõ được giải quyết vấn đề; đề xuất, lựa chọn, thực hiện và đánh giá được các giải vấn đề và pháp giải quyết vấn đề; nhận ra, hình thành và triển khai được sáng tạo các ý tưởng mới; có tư duy độc lập. Là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục đích giao Năng lực tiếp; kỹ năng thể hiện thái độ giao tiếp; lựa chọn, sử dụng các giao tiếp phương thức giao tiếp dựa trên nền tảng kỹ năng sử dụng tiếng Việt và sử dụng ngoại ngữ. Là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định đúng đắn mục Năng lực tiêu học tập; lập kế hoạch và thực hiện cách học; và đánh giá, tự học điều chỉnh cách học nhằm tự học và tự nghiên cứu một cách hiệu quả và có chất lượng. Là năng lực biểu hiện thông qua việc xác định mục đích và Năng lực phương thức hợp tác, trách nhiệm và hoạt động của bản thân hợp tác trong quá trình hợp tác, nhu cầu và khả năng của người hợp tác; tổ chức và thuyết phục người khác; đánh giá hoạt động hợp tác.
Năng lực chuyên biệt (specific competence) là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn, nhằm đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như năng lực tính toán, năng lực thể chất, năng lực ngôn ngữ, năng lực thẩm mĩ, năng lực công nghệ thông tin, năng lực khoa học… Năng lực chuyên biệt sẽ góp phần hình thành năng lực chung, năng lực chung là cơ sở để phát huy năng lực chuyên biệt. Hai loại năng lực: năng lực chung và năng lực chuyên biệt không bao giờ tách biệt mà luôn bổ sung, hỗ trợ cho nhau. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các phương pháp hình thành và phát triển năng lực cho người học Để hình thành và phát triển năng lực cho người học, người dạy cần sử dụng kết hợp các PP, kĩ thuật, hình thức tổ chức và các phương tiện dạy học khác nhau.
Mỗi PP có những ưu điểm nổi trội, phù hợp với những tình huống, đơn vị kiến thức khác nhau. Để phát huy được năng lực cho người học, mỗi GV cần lựa chọn PP, kĩ thuật, hình thức và phương tiện dạy học phù hợp nhất với từng nội dung bài học khác nhau. Thứ nhất, GV có thể vận dụng các PP dạy học tích cực: dạy học dự án; dạy học giải quyết vấn đề; dạy học khám phá; PP bàn tay nặn bột; dạy học bằng bài tập tình huống; PP nghiên cứu khoa học; PP thực hành thí nghiệm… Thứ hai, GV có thể vận dụng linh hoạt một số kĩ thuật dạy học tích cực như kĩ thuật động não, kĩ thuật XYZ, kĩ thuật KWL, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật bể cá, kĩ thuật lược đồ tư duy, kĩ thuật công não, kĩ thuật phòng tranh, kĩ thuật ổ bi, kĩ thuật tia chớp,… Thứ ba, để hình thành và phát triển năng lực cho người học, người dạy có thể sử dụng đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học.