phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về dạy học tích hợp nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh. Chƣơng 2: Thiết kế một số chủ đề dạy học tích hợp nhằm phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh THPT (phần Cacbohiđrat và Polime Hóa học 12). Chƣơng 3: Thực nghiệm sư phạm. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC TÍCH HỢP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Định hƣớng đổi mới giáo dục phổ thông sau năm 2015 1. Định hƣớng chung Những quan điểm, định hướng về giáo dục của Đảng và Nhà nước chính là tiền đề, cơ sở pháp lí cho việc đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, đổi mới PPDH, KT - ĐG theo định hướng phát triển năng lực người học [12], cụ thể : (1) Quán triệt quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục nói chung, đổi mới chương trình, sách giáo khoa nói riêng Tuân thủ quy định về chương trình, sách giáo khoa tại Luật Giáo dục, nghị quyết 88 của Quốc Hội khóa 13 về đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2011–2020.
(2) Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực HS tương thích với từng cấp học và từng lĩnh vực học tập/ môn học/ hoạt động giáo dục. HS được giáo dục toàn diện, được rèn luyện, phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiết và định hướng được nghề nghiệp. (3) Cấu trúc, nội dung chương trình, sách giáo khoa phải đảm bảo chuẩn hóa, hiện đại hóa, hội nhập và đảm bảo tính chỉnh thể, linh hoạt, thống nhất, khả thi. Chương trình đảm bảo tính kế thừa, tính liên thông, tính thống nhất, tính khả thi, đảm bảo quyền tự chủ, linh hoạt cho các địa phương và vận dụng hợp lý kinh nghiệm quốc tế về phát triển chương trình giáo dục phổ thông.
Nội dung giáo dục được lựa chọn là những tri thức cơ bản và phải phù hợp với thời lượng dạy học. (4) Đẩy mạnh đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Tiếp tục vận dụng và đổi mới các phương pháp (PP) giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, chú trọng bồi dưỡng PP tự học, khả năng hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn,. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, tăng cường các hoạt động xã hội của HS. Tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là CNTT&TT.
(5) Đổi mới đánh giá kết quả giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực của người học Đánh giá kết quả giáo dục chính xác, khách quan và điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực HS. Thực hiện đa dạng PP đánh giá. Đổi mới cách tổ chức thi tốt nghi p THPT theo hướng gọn nh , hiệu quả. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (6) Quản lý việc xây dựng và thực hiện chương trình đảm bảo linh hoạt phù hợp đối tượng và vùng miền 1.
Định hƣớng phát triển chƣơng trình nhà trƣờng [10, 11] Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XI yêu cầu: đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; đổi mới chương trình, nội dung, PPDH, KT- ĐG, hình thành năng lực sáng tạo.trên tinh thần tăng cường tính tự chủ, chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Chương trình bao gồm các loại chương trình quốc gia, chương trình địa phương và chương trình nhà trường. Chương trình nhà trường - Chương trình nhà trường là sự phát triển của chương trình Quốc gia trên cơ sở căn cứ vào mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung dạy học chung. - Phát triển chương trình nhà trường là quá trình cụ thể hóa, sắp xếp lại chương trình Quốc gia phù hợp với thực tiễn địa phương trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của chương trình Quốc gia, lựa chọn, xây dựng nội dung và cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển các phẩm chất, năng lực của người học, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.
- Chương trình nhà trường bao gồm: Kiểu hoạt động (tạo tài liệu mới phù hợp với chương trình Quốc gia.); Những người tham gia chương trình (nhóm GV, nhóm bộ môn, nhà trường); Thời gian thực hiện (một phần, ngắn hạn, dài hạn,. Phát triển chương trình nhà trường Việc phát triển chương trình nhà trường nhằm khắc phục chương trình hiện hành, nâng cao chất lượng dạy học, củng cố cơ chế phối hợp, tăng cường vai trò của các trường phổ thông, bồi dưỡng năng lực nghiên cứu khoa học và chuẩn bị cơ sở lí luận và thực tiễn cho đổi mới chương trình sau 2018. Việc phát triển chương trình nhà trường cần thực hiện tốt các nguyên tắc sau: - Nghiên cứu kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục - Tính logic kiến thức giữa các môn học - Tính khả thi và tính thời lượng - Có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các cơ quan quản lí giáo dục ở trường, sở, khoa, các ban ngành, … 1. Qui trình phát triển chương trình nhà trường Việc phát triển chương trình nhà trường cần thực hiện như sau: Phân tích bối cảnh nhà trường THPT; Xác định mục tiêu của chương trình giáo dục THPT; Thiết kế chuẩn đầu ra; Thiết kế chương trình môn học; Thiết kế chuẩn đầu ra cho môn học; Biên soạn kịch bản bài giảng; Thẩm định chương trình; Triển khai và đánh giá.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tổ chức xây dựng và ban hành chương trình có quy định chuẩn đầu ra để sử dụng thống nhất trong toàn quốc. Bên cạnh đó phát triển các loại tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ dạy học để đáp ứng sự đa dạng vùng miền, đáp 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ứng nhu cầu các đối tượng HS. Trong các mục tiêu đổi mới giáo dục trên thì vấn đề định hướng kết quả đạt được cho người học là đảm bảo phát triển được phẩm chất và năng lực. Việc phát triển năng lực cho HS phổ thông là một vấn đề then chốt góp phần không nhỏ vào sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục trong giai đoạn tới.
Bên cạnh đó DHTH cũng được đánh giá là khâu đột phá trong công cuộc đổi mới này. Bởi vậy, cần thiết phải xem xét những cơ sở lí luận và thực tiễn của DHTH và việc phát triển năng lực GQVĐ cho học sinh THPT. Tổng quan về dạy học tích hợp 1. hái ni m t ch h p Tích hợp có nguồn gốc từ tiếng Latinh từ integration với nghĩa xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Theo từ điển tiếng Anh - Anh (Oxford Advanced Learner's Dictionary), từ integrate có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể. Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau. Theo từ điển tiếng Việt thì: "Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp". Theo từ điển bách khoa toàn thư: "Tích hợp hệ thống là phối hợp các thiết bị và công cụ khác nhau để cùng làm một việc với nhau trong một hệ thống - một chương trình nhằm giải quyết những nhiệm vụ chung nào đó".
Theo [1, 26] thì: "Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Đó là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy". Tóm lại, nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất các bộ phận khác nhau để đưa đến một đối tượng mới thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng chứ không phải phép cộng đơn giản của những đối tượng ấy. Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, đó là tính liên kết và tính toàn vẹn.
Nhờ có tính liên kết mà tạo nên được thực thể toàn v n và tính toàn v n được xác lập bởi sự thống nhất các thành phần liên kết. Tích hợp kiến thức Các tác giả xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa (SGK) xác định những nội dung có liên quan hoặc đan xen, thống nhất trong các lĩnh vực nội dung học tập và tổ hợp chúng lại với nhau. Kết quả của kiểu tích hợp kiến thức tạo ra các sản phẩm như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Môn học tích hợp: Được tạo ra do sự tích hợp các môn học truyền thống, song có sự sắp xếp lại kiến thức của một số ngành khoa học có liên quan với nhau. Môn học tích hợp được thực hiện hóa bằng chương trình tích hợp.
Chương trình tích hợp: Được xây dựng dựa trên quan điểm giáo dục nhằm phát triển năng lực người học. Điểm xuất phát của chương trình phải là những vấn đề do cuộc sống đặt ra, yêu cầu người học có đủ khả năng vận dụng kiến thức một cách tổng thể để giải quyết chúng. Nguyên tắc tích hợp môn học: Để đạt được mức độ tích hợp tạo môn học mới, phải thiết kế mục tiêu môn học theo quan điểm hướng vào việc tạo năng lực cho người học; phải chấp nhận việc các kiến thức của các ngành khoa học liên quan chỉ đóng vai trò "công cụ" và được cấu trúc lại theo yêu cầu gắn với cuộc sống, hình thành cho người học năng lực GQVĐ; các kiến thức phải đảm bảo có ý nghĩa đối với đời sống, đảm bảo tình khoa học, hiện đại, cập nhật và phù hợp với khả năng nhận thức của HS. Có 4 mức độ tích hợp:Tích hợp trong nội môn, đa môn, liên môn và xuyên môn.
Tích hợp dạy học[1, 26] Tích hợp dạy học là việc GV sử dụng các phương pháp dạy học(PPDH) để thực hiện các nội dung dạy học và được tích hợp trong chương trình theo các mức độ liên hệ, lồng ghép (tích hợp bộ phận), hoặc tích hợp toàn phần.