Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng rau quả trên địa bàn thành phố Hà Nội" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Huyền, bảo vệ năm 2020 tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Minh và PGS. Nguyễn Tiến Dũng. Luận án thuộc chuyên ngành Kinh doanh thương mại, mã số 62340121, tiếp cận theo hướng nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng nhằm giải quyết các yêu cầu lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng nông sản trong bối cảnh phát triển đô thị.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ ngành rau quả giữ vai trò quan trọng đối với nhu cầu tiêu dùng nội địa và kim ngạch xuất khẩu. Tuy nhiên, tại Hà Nội, dù thành phố đã quy hoạch vùng sản xuất tập trung từ năm 2012 giúp diện tích canh tác tăng lên, quy mô các chuỗi rau quả hình thành vẫn nhỏ lẻ và phân tán. Toàn thành phố có gần 5.000 tấn sản lượng rau quả sản xuất mỗi ngày, nhưng sản lượng nhận hợp đồng bao tiêu chỉ đạt khoảng 75 tấn/ngày thông qua khoảng 300 doanh nghiệp hợp đồng với nông dân. Đáng chú ý, có tới 92% sản lượng rau quả lưu thông trên thị trường chưa có tem nhãn hay bộ nhận diện phục vụ truy xuất nguồn gốc. Các chuỗi cung ứng hiện hữu vận hành thiếu tính liên kết, không có chủ thể dẫn dắt rõ ràng, kênh phân phối truyền thống qua chợ đầu mối và chợ dân sinh chiếm 90% sản lượng nhưng buông lỏng quản lý chất lượng và an toàn thực phẩm. Khoảng trống đặt ra là cần xác định rõ mối quan hệ giữa mô hình chuỗi cung ứng với việc phân phối giá trị gia tăng, từ đó tìm kiếm mô hình ưu tiên phù hợp với đặc thù của Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là đề xuất các giải pháp phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng rau quả trên địa bàn thành phố Hà Nội, dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng các mô hình hiện có và các luận điểm phát triển ngành hàng của thành phố. Mục tiêu cụ thể gồm: (1) Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng; (2) Đánh giá thực trạng các mô hình chuỗi cung ứng rau quả tại Hà Nội và phân tích các căn cứ đề xuất mô hình phù hợp; (3) Đề xuất mô hình và hệ thống các giải pháp phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn Hà Nội.

Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của luận án được phân định cụ thể theo 3 nhóm:

  • Nhiệm vụ 1: Xác lập cơ sở lý luận về phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng. Câu hỏi nghiên cứu gồm:
    1. Mô hình chuỗi cung ứng rau quả là gì? Phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng là gì?
    2. Phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng như thế nào?
    3. Giá trị hàng rau quả được tạo lập trong chuỗi cung ứng như thế nào?
    4. Kinh nghiệm phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng của các nước trên thế giới và một số địa phương của Việt Nam đem lại cho Hà Nội những bài học nào?
    5. Yếu tố trong và ngoài chuỗi ảnh hưởng thế nào đến việc tạo lập giá trị gia tăng mặt hàng rau quả?
  • Nhiệm vụ 2: Khảo sát, đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng và tạo lập giá trị trong chuỗi cung ứng hàng rau quả trên địa bàn thành phố Hà Nội. Câu hỏi nghiên cứu gồm:
    1. Bối cảnh của Hà Nội khi vận hành các mô hình chuỗi cung ứng rau quả?
    2. Trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện có những mô hình chuỗi cung ứng rau quả nào?
    3. Các liên kết ngang – dọc, tích hợp trong chuỗi? Tổ chức quản trị và cơ chế vận hành trong các chuỗi hiện có của Hà Nội?
    4. Giá trị gia tăng trong các mô hình chuỗi cung ứng rau quả hiện có ở Hà Nội?
  • Nhiệm vụ 3: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất mô hình chuỗi cung ứng phù hợp và giải pháp nâng cao giá trị trong chuỗi cung ứng rau quả đã lựa chọn. Câu hỏi nghiên cứu gồm:
    1. Đánh giá như thế nào đối với các mô hình chuỗi cung ứng rau quả trên địa bàn Hà Nội?
    2. Việc đề xuất mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng hàng rau quả trên địa bàn Hà Nội dựa trên những căn cứ nào?
    3. Quan điểm, mục tiêu và các yêu cầu đặt ra đối với phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng hàng rau quả trên địa bàn Hà Nội?
    4. Đề xuất mô hình nào để phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng hàng rau quả trên địa bàn Hà Nội?
    5. Giải pháp nào để phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng đã được lựa chọn?

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chuỗi cung ứng và phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả tươi theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn một địa phương cấp tỉnh/thành phố. Hướng tiếp cận nghiên cứu là giá trị gia tăng bền vững, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và xanh.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 khía cạnh cốt lõi của mô hình chuỗi cung ứng rau quả tươi gồm cơ cấu tổ chức chuỗi, hoạt động trong chuỗi và liên kết giữa các thành viên bên trong cũng như bên ngoài chuỗi.
  • Phạm vi không gian: Thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội, trọng tâm là các chuỗi rau quả tươi phục vụ thị trường nội địa. Đối với tác nhân sản xuất, nghiên cứu khảo sát tại các quận, huyện: Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Hoài Đức, Chương Mỹ, Hà Đông. Đối với các tác nhân phân phối và người tiêu dùng, nghiên cứu khảo sát trên toàn địa bàn thành phố.
  • Phạm vi thời gian: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014 – 2018; nguồn dữ liệu sơ cấp được khảo sát điều tra từ tháng 2/2017 đến tháng 5/2017; các giải pháp và định hướng đề xuất có giá trị áp dụng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống các nghiên cứu liên quan đến chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị theo hai nhóm lý luận và thực tiễn:

Về lý luận chung, tác giả điểm lại khung phân tích chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) về việc phân rã doanh nghiệp thành các hoạt động cơ bản và hoạt động bổ trợ nhằm xác định nguồn gốc tạo ra giá trị và lợi thế cạnh tranh. Khung phân tích chuỗi giá trị toàn cầu của Kaplinsky và Morris (2012) được trích dẫn để làm rõ cách thức phân phối thu nhập và giá trị. Các nguyên tắc cốt lõi về quản trị chuỗi cung ứng được kế thừa từ Cohen S. (2005, bản dịch của Phạm Như Hiền và cộng sự, 2008), Hugos Michael H. (2006, bản dịch của Cao Hồng Đức và Phương Thúy, 2010), cùng Peter Bolstorff và Robert Rosenbaum (2007, bản dịch của Ngọc Lý và Thúy Ngọc, 2011).

Về nghiên cứu thực tế quốc tế, luận án phân tích công trình của Negi S. về chuỗi cung ứng rau quả tại Ấn Độ, chỉ ra rằng chuỗi truyền thống chiếm tới 95-98% giá trị cung ứng nhưng trung gian thương mại nắm giữ khoảng 75% giá trị gia tăng, trong khi tổn thất sau thu hoạch lớn do thiếu chuỗi lạnh. Nghiên cứu tại bang Andhra Pradesh (Ấn Độ) chỉ ra vai trò của các chuỗi bán lẻ hiện đại trong việc ổn định giá và tạo môi trường phân phối chuẩn mực. Công trình của tác giả cùng cộng sự (2006) và báo cáo của Cơ quan Tiếp thị Nông nghiệp Liên bang Malaysia (FAMA, 2006) chỉ rõ hạn chế khi 2/3 lượng rau quả lưu thông qua nhiều tầng trung gian, từ đó chứng minh sự cần thiết phải chuyển dịch sang mô hình do các nhà bán lẻ quy mô lớn lãnh đạo và tích hợp chức năng bán buôn.

Về nghiên cứu thực tế tại Việt Nam, luận án điểm lại luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bạch Tuyết (2018) về phân tích giá trị gia tăng ở từng khâu trong chuỗi cung ứng thủy sản xuất khẩu; báo cáo dự án của Metro Cash & Carry Việt Nam và Đại sứ quán Hà Lan (2013) về mô hình liên kết bao tiêu rau an toàn tại miền Bắc; báo cáo của Trần Thị Ba (2008) tại Đại học Cần Thơ về phát triển chuỗi cung ứng rau Đồng bằng sông Cửu Long theo tiêu chuẩn GAP. Tại Hà Nội, tác giả tổng thuật công trình của Nguyễn Thị Tân Lộc và Đỗ Kim Chung (2015) về thực trạng phân phối rau qua chợ và siêu thị; luận án của Đào Duy Tâm (2010) về các yếu tố tác động đến phát triển bền vững vùng rau an toàn; dự án của tổ chức GTZ (2005) nghiên cứu sơ lược các tác nhân trong chuỗi giá trị rau Hà Nội trước thời điểm mở rộng địa giới hành chính năm 2008.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:

  • Về lý luận: Các lý luận về chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị tại Việt Nam chủ yếu là sự kế thừa từ tài liệu nước ngoài thông qua dịch thuật. Vấn đề lý luận về phát triển mô hình chuỗi cung ứng gắn liền với tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trong ngành hàng nông sản nói chung và rau quả nói riêng chưa được hệ thống hóa đầy đủ.
  • Về thực tiễn: Các công trình trước đây chỉ khảo sát đơn lẻ từng mô hình hoặc tập trung vào khâu kỹ thuật, canh tác của từng vùng sản xuất đặc sản. Chưa có công trình nào đối sánh toàn diện nhiều mô hình chuỗi cung ứng cùng vận hành trên một không gian đô thị cụ thể như Hà Nội để lượng hóa mối quan hệ giữa mô hình tổ chức chuỗi với cơ chế tạo lập và phân phối giá trị gia tăng. Đồng thời, hệ thống phân phối truyền thống qua chợ đầu mối (chiếm 90% sản lượng) thường bị bỏ qua trong các hệ thống giải pháp phát triển chuỗi hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, tác giả sử dụng các khung lý thuyết và khái niệm khoa học sau:

  • Định nghĩa chuỗi cung ứng theo Hội đồng Chuỗi cung ứng (Supply Chain Council - SCC): Chuỗi cung ứng là một tập hợp gồm ba hay nhiều doanh nghiệp, kết nối trực tiếp hoặc gián tiếp bằng một hay nhiều dòng chảy sản phẩm, thông tin và tài chính trong quá trình đáp ứng yêu cầu khách hàng. Lu Dawei (2011) bổ sung bốn dòng chảy xuyên suốt: dòng vật chất, dòng thông tin, dòng tài chính và dòng thương mại.
  • Cấu trúc chuỗi cung ứng theo chiều dọc và chiều ngang của Lambert D.M (1998) nhằm xác định vị thế của doanh nghiệp tâm điểm và các hình thức giao kết (dạng quản lý quy trình, dạng giám sát, giao kết không phải quản lý quy trình).
  • Phân loại mức độ hoàn thiện chuỗi cung ứng của Beamon B. (1998) và Tonanont cùng cộng sự (2008) gồm: chuỗi cung ứng truyền thống, chuỗi cung ứng mở rộng và chuỗi cung ứng khép kín.
  • Khung phân tích chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) và mô hình nâng cấp chuỗi giá trị nông nghiệp của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2016).
  • Khái niệm và công thức tính giá trị gia tăng (GTGT) theo hướng dẫn của tổ chức GTZ (2007) và Doris-Becker cùng cộng sự (2009): $\text{Giá trị gia tăng} = \text{Giá trị sản xuất} - \text{Chi phí trung gian}$. GTGT chuỗi cung ứng rau quả bao gồm giá trị gia tăng nội sinh và giá trị gia tăng ngoại sinh.

Về phương pháp nghiên cứu định tính:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Các văn bản chính sách, chỉ thị quy hoạch của Chính phủ và UBND thành phố Hà Nội; số liệu thống kê sản xuất, thương mại giai đoạn 2014 – 2018 từ Cục Thống kê Hà Nội, Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Trung tâm Phát triển cây trồng Hà Nội.
  • Phỏng vấn chuyên gia: Thực hiện từ tháng 2 đến tháng 5/2017 với các cán bộ quản lý nhà nước (Sở NN&PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật, Chi cục Khuyến nông, Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm thủy sản, Trung tâm Giống cây trồng) và các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu rau quả, Viện Quản lý đất đai và PTNT (Đại học Lâm nghiệp), Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
  • Khảo sát thực địa và phân tích chuỗi: Phân tích cấu trúc chức năng, các dòng chảy liên kết ngang - dọc, cơ chế vận hành của các mô hình chuỗi rau quả tại Hà Nội và xây dựng ma trận SWOT đánh giá từng mô hình.

Về phương pháp nghiên cứu định lượng:

  • Lựa chọn sản phẩm đại diện: Tác giả chọn cà chua đại diện cho nhóm rau (do tính chất là cây hằng niên, chu kỳ canh tác quanh năm tương đồng các loại rau ăn lá, ăn củ; có mặt đồng thời trong tất cả các mô hình khảo sát; khảo sát đúng vụ xuân hè 2017) và bưởi Quế Dương đại diện cho nhóm quả (giống cây có tính ổn định lâu dài tại địa phương, hiện diện trong đa số chuỗi cung ứng).
  • Xác định quy mô mẫu: Sử dụng công thức Taro Yamane (1967) đối với tổng thể xác định gồm người sản xuất ($N_1 = 20.000$, chọn sai số $e = 0{,}075$, độ tin cậy 92,5% $\rightarrow n_1 = 176$) và người mua ($N_2 = 1.000$, $e = 0{,}075 \rightarrow n_2 = 178$). Sử dụng công thức Cochran W. (1963) đối với tổng thể khó xác định gồm đơn vị kinh doanh, chế biến và chuyên gia quản lý ($Z = 1{,}96$, $p = 0{,}5$, $e = 0{,}05 \rightarrow n_3 = 384$).
STT Tác nhân điều tra Tổng thể theo khảo sát sơ bộ ($N$) Cỡ mẫu điều tra ($n$)
1 Hộ sản xuất rau quả $N_1 = 20.000$ $n_1 = 176$
2 Đơn vị kinh doanh, chế biến Khó xác định $n_3 = 384$
3 Chuyên gia, cán bộ quản lý Khó xác định Ghép trong nhóm $n_3$
4 Người mua (người tiêu dùng) $N_2 = 1.000$ $n_2 = 178$
Tổng Toàn bộ các tác nhân — 738

Tổng số phiếu phát ra là 738 phiếu; sau bước sàng lọc và làm sạch, số phiếu hợp lệ đưa vào phân tích thống kê là 593 phiếu. Dữ liệu được quản lý trên phần mềm Microsoft Excel và xử lý định lượng bằng SPSS 20.0. Các kỹ thuật phân tích gồm: kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha (hệ số $\alpha \ge 0{,}6$, hệ số tương quan biến - tổng $> 0{,}3$); phân tích nhân tố khám phá EFA (KMO $> 0{,}5$, kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa $p < 0{,}05$, hệ số tải nhân tố Factor loading $> 0{,}3$, tổng phương sai trích $\ge 50%$); và mô hình hồi quy tuyến tính bội: $Y_i = \beta_0 + \beta_1 X_{1i} + \beta_2 X_{2i} + \dots + \beta_k X_{ki} + e_i$. Ngoài ra, tác giả tính toán các chỉ tiêu kinh tế gồm doanh thu, chi phí trung gian, lợi nhuận và giá trị gia tăng ở từng mắt xích.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng hàng nông sản

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, mô hình chuỗi cung ứng và phương thức phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trong ngành hàng rau quả:

  • Khái niệm và phân loại chuỗi cung ứng: Phân định chuỗi cung ứng theo phạm vi địa lý (địa phương, quốc gia, toàn cầu), theo thành viên tham gia (giản đơn, mở rộng), theo chủ thể điều phối (do nhà cung cấp, nhà sản xuất, hoặc trung gian phân phối lãnh đạo) và theo mức độ hoàn thiện (truyền thống, mở rộng, khép kín).
  • Cấu trúc và phương thức phát triển mô hình: Mô hình chuỗi cung ứng được cấu thành bởi chiều dài (số cấp trung gian dọc), chiều rộng (số lượng tác nhân ở mỗi cấp ngang) và 4 dòng chảy vận hành. Phát triển mô hình chuỗi cung ứng bao gồm 3 cấp độ: (1) Cải tiến chức năng mà không thay đổi cấu trúc thành viên; (2) Tái xác lập hoặc tích hợp thêm chức năng mới cho các thành viên; (3) Thiết kế xây dựng mô hình mới gắn với việc nâng cấp chuỗi giá trị.
  • Đặc thù của ngành hàng rau quả: Rau quả có hàm lượng nước cao (chiếm khoảng 95%), kết cấu tế bào lỏng lẻo dễ xây xát và chuyển hóa sinh học mạnh sau thu hoạch. Tỷ lệ rau quả đưa vào chế biến chỉ đạt 5-7%, còn lại chủ yếu tiêu thụ tươi sống nên yêu cầu bảo quản khắt khe. Trong cơ cấu tạo lập giá trị gia tăng, khâu marketing và phân phối tạo ra giá trị gia tăng lớn nhất, kế đến là nghiên cứu phát triển và chế biến, trong khi khâu canh tác/sản xuất tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất nhưng chịu nhiều rủi ro thị trường và dịch bệnh nhất.
  • Bài học kinh nghiệm: Tác giả phân tích mô hình chuỗi Tops Thailand (Thái Lan) trong việc kết nối bán lẻ với vùng nguyên liệu; mô hình phân phối rau quả Malaysia với vai trò điều phối của cơ quan FAMA và các chuỗi siêu thị nhằm cắt giảm tầng nấc bán buôn; kinh nghiệm kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng và công nghệ chuỗi lạnh của Australia. Đồng thời, chương 1 đúc kết kinh nghiệm trong nước từ mô hình chuỗi ngắn và chuỗi qua chợ đầu mối tại Đà Nẵng, mô hình chuỗi thực phẩm an toàn tại TP. Hồ Chí Minh và mô hình thực phẩm khép kín Sagrifood.

Chương 2: Thực trạng mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng rau quả trên địa bàn thành phố Hà Nội

Chương 2 phản ánh bức tranh thực trạng sản xuất, lưu thông và phân tích định lượng giá trị gia tăng của các chuỗi cung ứng rau quả tại Hà Nội giai đoạn 2014 – 2018:

  • Bối cảnh sản xuất và chính sách: Diện tích và sản lượng rau quả Hà Nội tăng dần nhờ quy hoạch vùng sản xuất tập trung, vùng ứng dụng công nghệ cao. Tuy nhiên, hệ thống phân phối bị mất cân đối nghiêm trọng: kênh truyền thống qua chợ đầu mối và chợ dân sinh chiếm tới 90% sản lượng nhưng buông lỏng kiểm soát an toàn thực phẩm; kênh bán lẻ hiện đại (siêu thị, cửa hàng tiện ích) chiếm dưới 10%. Toàn thành phố chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp bao tiêu sản phẩm cho nông dân với sản lượng 75 tấn/ngày, chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với tổng sản lượng tiêu thụ gần 5.000 tấn/ngày.
  • Khảo sát thực trạng 4 mô hình chuỗi cung ứng điển hình:
    1. Mô hình chuỗi cung ứng theo các thành viên tham gia (chuỗi truyền thống qua người thu gom, chợ đầu mối, người bán lẻ tự do): Cấu trúc chuỗi dài, phân tán, không có thành viên dẫn dắt, giao kết lỏng lẻo qua thỏa thuận miệng, tỷ lệ dập nát hao hụt lớn.
    2. Mô hình chuỗi cung ứng do nhà bán lẻ lãnh đạo và điều phối: Nhà bán lẻ (siêu thị, chuỗi cửa hàng) đóng vai trò trung tâm, đặt ra các tiêu chuẩn chất lượng và ký kết hợp đồng thu mua trực tiếp với HTX hoặc tổ hợp tác sản xuất.
    3. Mô hình chuỗi cung ứng rau quả khép kín VinEco: Doanh nghiệp tự tổ chức sản xuất bằng nông trường công nghệ cao, quản lý vận chuyển bằng chuỗi lạnh nhiệt độ 16-20°C và phân phối trực tiếp qua hệ thống bán lẻ nội bộ.
    4. Mô hình chuỗi cung ứng nông trại chia sẻ Sharefarm (Hát Môn – Phúc Thọ): Vận hành theo mô hình cung ứng dịch vụ thành viên dài hạn (như gói sản phẩm SF4 cho gia đình 4 người), kết nối trực tiếp giữa nông trại và người tiêu dùng.
  • Kết quả lượng hóa giá trị gia tăng và phân tích định lượng: Tính toán chi phí - doanh thu trên sản phẩm đại diện (cà chua và bưởi Quế Dương) cho thấy tổng giá trị gia tăng và giá trị gia tăng của người sản xuất có sự phân hóa mạnh giữa các mô hình. Chuỗi khép kín VinEco và chuỗi do nhà bán lẻ dẫn dắt tạo ra giá trị gia tăng trên một đơn vị sản phẩm cao hơn và bảo đảm thu nhập ổn định hơn cho người sản xuất so với chuỗi truyền thống. Phân tích EFA và mô hình hồi quy đa biến trên 593 quan sát đã xác định rõ mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố bên trong (liên kết thành viên, năng lực quản trị, hạ tầng bảo quản) và bên ngoài (chính sách hỗ trợ, cơ chế thanh tra giám sát của nhà nước) đến khả năng tạo lập giá trị gia tăng.
  • Đánh giá tổng hợp qua ma trận SWOT: Xác định điểm mạnh về quỹ đất quy hoạch và nhu cầu thị trường lớn; điểm yếu về tỷ lệ liên kết hợp đồng thấp, hạ tầng sơ chế và bảo quản lạc hậu; cơ hội từ chính sách nông nghiệp công nghệ cao và nhận thức tiêu dùng thay đổi; thách thức từ sự xâm nhập của nguồn rau quả ngoại tỉnh không kiểm soát và sự cạnh tranh về giá từ chợ truyền thống.

Chương 3: Đề xuất mô hình và các giải pháp phát triển chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng mặt hàng rau quả trên địa bàn thành phố Hà Nội

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng và dự báo thị trường rau quả Hà Nội đến năm 2030, Chương 3 đề xuất định hướng mô hình và các nhóm giải pháp:

  • Căn cứ và quan điểm đề xuất: Bám sát quy hoạch phát triển sản xuất - kinh doanh rau quả của UBND thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn 2030; phát triển chuỗi cung ứng phải gắn liền với nâng cao giá trị gia tăng bền vững, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phát triển nông nghiệp công nghệ cao và hài hòa lợi ích giữa các tác nhân.
  • Đề xuất hai mô hình chuỗi cung ứng ưu tiên phát triển:
    1. Mô hình chuỗi cung ứng do nhà bán lẻ lãnh đạo và điều phối: Phát huy vai trò hạt nhân của các hệ thống bán lẻ quy mô lớn để định hướng kế hoạch sản xuất, chuẩn hóa quy trình VietGAP, ký hợp đồng bao tiêu dài hạn với các HTX và quản trị luồng phân phối hiện đại.
    2. Mô hình chuỗi cung ứng thông qua chợ đầu mối có cơ quan chuyên trách: Thiết lập bộ máy cơ quan chuyên trách quản lý tại các chợ đầu mối nhằm kiểm soát nguồn gốc, tổ chức phân loại, kiểm tra nhanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, cấp chứng nhận nguồn gốc trước khi phân phối về các chợ dân sinh, nhằm chuẩn hóa kênh truyền thống vốn đang chiếm 90% sản lượng.
  • Các nhóm giải pháp phát triển và hỗ trợ:
    • Nhóm giải pháp phát triển chuỗi do nhà bán lẻ lãnh đạo: Chuẩn hóa hệ thống hợp đồng bao tiêu, xây dựng trung tâm logistics nông sản và hoàn thiện cơ chế chia sẻ thông tin thị trường giữa nhà bán lẻ và người trồng trọt.
    • Nhóm giải pháp chuẩn hóa chuỗi qua chợ đầu mối: Xây dựng quy chế hoạt động của cơ quan chuyên trách, đầu tư cơ sở hạ tầng kho bãi, kiểm nghiệm an toàn thực phẩm ngay tại khuôn viên chợ đầu mối.
    • Các giải pháp hỗ trợ đồng bộ: Tăng cường vai trò quản lý nhà nước; siết chặt cam kết thực thi tiêu chuẩn an toàn thực phẩm; củng cố các liên kết ngang (tổ hợp tác, HTX nông nghiệp kiểu mới) để cân bằng vị thế đàm phán với thương nhân; đầu tư công nghệ sơ chế, bảo quản lạnh và hệ thống xử lý phụ phẩm sau thu hoạch nhằm giảm thiểu tỷ lệ hao hụt.
  • Kiến nghị cụ thể đối với các cấp quản lý: Kiến nghị Chính phủ ban hành chính sách quản lý đồng bộ chuỗi nông sản và ưu tiên ngân sách cho hạ tầng xử lý sau thu hoạch; kiến nghị UBND thành phố Hà Nội khẩn trương thành lập Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành phố và hoàn thiện cơ chế liên kết chuỗi; kiến nghị Sở Công Thương và Sở Nông nghiệp & PTNT phối hợp thanh tra liên ngành và đổi mới thực thi chính sách hỗ trợ vốn cho nông dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã nêu rõ các đóng góp mới về mặt học thuật lý luận, kết luận thực tiễn và giải pháp ứng dụng:

Về học thuật và lý luận:

  • Luận án đã hệ thống hóa và phát triển thêm một bước lý luận về phát triển mô hình chuỗi cung ứng theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trong ngành hàng rau quả tại một địa phương.
  • Làm rõ cấu trúc các dòng chảy, cơ chế tạo lập và phân phối giá trị gia tăng giữa các mắt xích trong chuỗi nông sản tươi.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế (Thái Lan, Malaysia, Australia) và kinh nghiệm thực tiễn từ các tỉnh thành trong nước (Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh), chỉ ra khả năng vận dụng vào điều kiện đặc thù của thành phố Hà Nội.

Về đánh giá thực tiễn:

  • Phản ánh toàn diện thực trạng các mô hình chuỗi cung ứng rau quả đang vận hành song song tại Hà Nội, chỉ rõ sự chênh lệch lớn về giá trị gia tăng giữa các mô hình.
  • Chứng minh bằng dữ liệu thực nghiệm rằng các mô hình chuỗi có sự điều phối, dẫn dắt của doanh nghiệp bán lẻ hoặc doanh nghiệp khép kín mang lại giá trị gia tăng cao hơn và ổn định hơn so với chuỗi tự do truyền thống.
  • Làm rõ các điểm nghẽn thực tế: 90% lượng rau quả lưu thông qua hệ thống chợ truyền thống đang xuống cấp; 92% sản lượng thiếu tem nhãn nhận diện; sản lượng được bao tiêu qua hợp đồng chỉ đạt 75 tấn/ngày trong tổng số gần 5.000 tấn/ngày.
  • Sử dụng mô hình phân tích nhân tố EFA và hồi quy đa biến từ 593 phiếu điều tra để xác định và lượng hóa các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả.

Về chính sách và giải pháp đề xuất:

  • Đề xuất hai mô hình trọng tâm có tính khả thi cao đối với Hà Nội gồm mô hình do nhà bán lẻ lãnh đạo và mô hình thông qua chợ đầu mối có cơ quan chuyên trách giám sát.
  • Thiết lập hệ thống giải pháp liên hoàn bao gồm tổ chức liên kết hợp đồng, nâng cấp hạ tầng chuỗi lạnh, chuẩn hóa quy trình kiểm định chất lượng và hỗ trợ phát triển các HTX kiểu mới.
  • Đưa ra hệ thống kiến nghị rõ ràng, phân cấp đối với Chính phủ, UBND thành phố Hà Nội và các Sở chức năng (Sở Công Thương, Sở NN&PTNT Hà Nội).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế nghiên cứu:

  • Do đặc thù các doanh nghiệp chế biến và đơn vị kinh doanh thường bảo mật số liệu tài chính nội bộ, đồng thời các tác nhân như thương lái và người bán buôn, bán lẻ tự do rất khó lập danh sách khung mẫu đầy đủ, tác giả phải sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất (chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu theo kinh nghiệm dưới sự trợ giúp của cán bộ địa phương).
  • Do hạn chế về thời gian và kinh phí, phạm vi nghiên cứu thực địa chỉ tập trung vào hai nông sản đại diện là cà chua (đại diện cho nhóm rau) và bưởi Quế Dương (đại diện cho nhóm quả) tại 6 quận, huyện: Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm, Chương Mỹ, Hoài Đức và Hà Đông.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu định lượng trên nhiều chủng loại rau quả khác, đặc biệt là nhóm rau ăn lá ngắn ngày và các sản phẩm quả có chế biến sâu.
  • Mở rộng khảo sát chuỗi cung ứng liên vùng kết nối giữa Hà Nội với các tỉnh sản xuất nông sản lân cận trong khu vực Đồng bằng sông Hồng và miền núi phía Bắc.
  • Tiếp tục kiểm chứng và đo lường hiệu quả vận hành thực tế của cơ chế cơ quan chuyên trách quản lý an toàn thực phẩm tại các chợ đầu mối khi mô hình này được triển khai thí điểm.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh doanh thương mại, Quản trị chuỗi cung ứng, Kinh tế nông nghiệp: Luận án cung cấp khung phương pháp luận kết hợp phân tích chuỗi giá trị (Value Chain Analysis) với phân tích định lượng thống kê (EFA, hồi quy tuyến tính bội qua SPSS) và phương pháp tính toán giá trị gia tăng theo từng mắt xích.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Công Thương Hà Nội, Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội, Ban Quản lý các chợ): Các số liệu thực trạng về thị phần, tỷ lệ hao hụt và hệ thống giải pháp quản lý chợ đầu mối có cơ quan chuyên trách là tài liệu tham khảo để xây dựng chính sách quản lý chuỗi an toàn thực phẩm và quy hoạch mạng lưới thương mại đến năm 2030.
  • Đối với các doanh nghiệp phân phối, siêu thị và các hợp tác xã nông nghiệp: Mô hình tổ chức chuỗi do nhà bán lẻ dẫn dắt và các điều kiện ràng buộc hợp đồng trong luận án gợi mở cách thức xây dựng chuỗi liên kết tiêu thụ ổn định, nâng cao giá trị thương phẩm cho nông sản địa phương.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả luận án lựa chọn cà chua và bưởi Quế Dương làm hai sản phẩm đại diện để khảo sát thực nghiệm? Tác giả lựa chọn cà chua đại diện cho nhóm rau vì đây là cây trồng hằng niên có chu kỳ sinh trưởng và kỹ thuật canh tác (nhà màng, nhà lưới, ngoài đồng) tương đồng với nhiều loại rau khác; phương thức thu hái, bảo quản không phân khu riêng biệt tại các chuỗi; có mặt đồng thời trong tất cả các mô hình chuỗi cung ứng khảo sát; và thời điểm điều tra (tháng 2-5/2017) trùng đúng vụ thu hoạch xuân hè có sản lượng lớn. Bưởi Quế Dương được chọn đại diện cho nhóm quả vì là cây trồng ổn định lâu dài tại Hà Nội và hiện diện phổ biến trong hầu hết các mô hình phân phối trên địa bàn.

2. Tỷ lệ phân phối rau quả giữa kênh truyền thống và kênh hiện đại tại Hà Nội được luận án ghi nhận như thế nào? Luận án chỉ ra sự mất cân đối lớn trong hệ thống phân phối: kênh truyền thống thông qua chợ đầu mối và chợ dân sinh chiếm tới 90% sản lượng rau quả tiêu thụ của thành phố, nhưng bị buông lỏng kiểm soát an toàn thực phẩm và 92% sản lượng thiếu tem nhãn truy xuất nguồn gốc. Trong khi đó, kênh bán lẻ hiện đại (siêu thị, đại siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện ích) mới chỉ chiếm tỷ trọng dưới 10% thị phần.

3. Quy mô mẫu điều tra và phương pháp xử lý số liệu định lượng trong luận án được thiết kế ra sao? Quy mô mẫu được tính toán dựa trên công thức Taro Yamane đối với hộ sản xuất ($n_1 = 176$) và người tiêu dùng ($n_2 = 178$), kết hợp công thức Cochran đối với đơn vị kinh doanh, chế biến và chuyên gia ($n_3 = 384$). Tổng số phiếu phát ra là 738 phiếu, thu về 593 phiếu hợp lệ. Dữ liệu được làm sạch trên Excel và xử lý trên SPSS 20.0 bằng kiểm định độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và phân tích hồi quy tuyến tính bội.

4. Hai mô hình chuỗi cung ứng cụ thể nào được luận án đề xuất ưu tiên phát triển cho thành phố Hà Nội? Luận án đề xuất 2 mô hình ưu tiên gồm: (1) Mô hình chuỗi cung ứng rau quả do nhà bán lẻ lãnh đạo và điều phối (tận dụng năng lực của hệ thống bán lẻ hiện đại để liên kết bao tiêu với các HTX); (2) Mô hình chuỗi cung ứng rau quả thông qua chợ đầu mối có cơ quan chuyên trách (thiết lập bộ máy chuyên trách kiểm định an toàn thực phẩm và giám sát nguồn gốc ngay tại các chợ đầu mối nhằm chuẩn hóa kênh phân phối chiếm 90% thị phần).

5. Luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm quốc tế nào để áp dụng cho phát triển chuỗi rau quả tại Hà Nội? Luận án đúc kết 3 bài học quốc tế: Mô hình Tops Thailand (Thái Lan) trong việc doanh nghiệp bán lẻ kết nối, đào tạo nông dân sản xuất theo hợp đồng; mô hình Malaysia với cơ quan tiếp thị liên bang FAMA và các nhà bán lẻ quy mô lớn tích hợp chức năng bán buôn để cắt giảm tầng nấc trung gian; và bài học của Australia về việc chuẩn hóa hệ thống quản lý chuỗi lạnh và thực thi nghiêm ngặt các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Thị Thanh Huyền là công trình nghiên cứu toàn diện về phát triển mô hình chuỗi cung ứng rau quả theo tiếp cận nâng cao giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và lượng hóa dữ liệu từ 593 mẫu khảo sát thực địa giai đoạn 2014 – 2018, tác giả đã làm rõ thực trạng phân bổ giá trị gia tăng bất bình đẳng giữa các tác nhân và chứng minh tính ưu việt của các mô hình có chủ thể điều phối dẫn dắt. Đề xuất trọng tâm về mô hình chuỗi do nhà bán lẻ lãnh đạo cùng mô hình chợ đầu mối có cơ quan chuyên trách cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ công tác quản lý ngành hàng và quy hoạch thương mại nông sản của thành phố Hà Nội định hướng đến năm 2030.