Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Lực lượng sản xuất (LLSX) là một nội dung cốt lõi trong Triết học Mác - Lênin, do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về chủ đề này. Liên quan đến đề tài luận án, tác giả đã tiến hành tổng quan tài liệu tham khảo và phân chia thành ba nhóm chính, phù hợp với cấu trúc ba chương của luận án. Những công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận về lực lượng sản xuất và phát triển lực lượng sản xuất 1. Những công trình nghiên cứu lý luận về lực lượng sản xuất Trong thời đại CMCN 4.0, dưới tác động của cuộc cách mạng KH - CN, LLSX đã không ngừng phát triển, đạt đến trình độ ngày càng tiên tiến và hiện đại, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận án không chỉ tổng quan các công trình nghiên cứu về LLSX nói chung, mà còn tập trung vào các nghiên cứu liên quan đến LLSX hiện đại và LLSX mới trong xã hội ngày nay. Với cách tiếp cận này, có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: Tác giả Hồ Anh Dũng (2002) trong công trình công trình Phát huy yếu tố con người trong lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [30] cho rằng: “LLSX biểu hiện mối quan hệ con người với giới tự nhiên, biểu hiện năng lực chinh phục tự nhiên của con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định” [30, tr. LLSX là một thể thống nhất hữu cơ bao gồm con người và các sự vật, trong đó con người đóng vai trò quyết định. Tác giả phân tích các yếu tố của LLSX theo ba quan điểm: Thứ nhất, LLSX gồm yếu tố con người và các phương tiện lao động; thứ hai, yếu tố con người, các phương tiện lao động, đối tượng lao động; thứ ba, yếu tố con người, các phương tiện lao động, đối tượng lao động, khoa học và quản lý sản xuất.
Ở các quan điểm trên, mặc dù về số lượng các yếu tố tạo nên LLSX có sự khác nhau nhưng đều khẳng định vai trò thiết yếu của yếu tố con người trong LLSX. Công trình có ý nghĩa, cung cấp tư liệu quý giá cho nghiên cứu sinh trong việc luận giải những vấn đề lí luận về LLSX và các yếu tố cấu thành LLSX. Tuy nhiên, theo quan 10 điểm của Triết học Mác - Lênin, yếu tố cấu thành LLSX bao gồm người lao động chứ không phải con người và TLSX. Bởi lẽ, không phải con người nói chung nào cũng là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, mà chỉ có người lao động với sức khỏe thể chất và tinh thần cùng với kĩ năng, kinh nghiệm mới trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất và là bộ phận không thể thiếu của LLSX.
Cuốn sách Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức [28] do hai tác giả Vũ Đình Cự, Trần Xuân Sầm (Chủ biên, 2009), tập trung nêu cái nhìn khái quát về sự tiến bộ của LLSX hiện đại, cũng như ảnh hưởng có tính quyết định của nó đến sự phát triển của nền kinh tế tri thức. Nội dung cuốn sách làm rõ hơn những quan điểm về kinh tế tri thức được nêu trong văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta và giúp những nhà nghiên cứu, những người quan tâm nhận định rõ vấn đề này. Trong Chương 7 của cuốn sách: “Những đặc điểm chủ yếu của lực lượng sản xuất mới”, tác giả đã chỉ ra 5 biểu hiện chứng tỏ KH - CN đang trở thành LLSX trực tiếp. Thứ nhất, tỷ lệ nhân lực KH - CN tham gia vào quá trình sản xuất ngày càng cao, vượt xa số lượng lao động thủ công.
Thứ hai, các loại máy móc và dây chuyền sản xuất trong xí nghiệp ngày càng gắn kết chặt chẽ với các phòng thí nghiệm. Thứ ba, thời gian để đưa các ứng dụng khoa học từ phòng thí nghiệm ra thị trường ngày càng được rút ngắn. Thứ tư, sự hợp tác giữa DN, trường đại học và viện nghiên cứu ngày càng mật thiết. Thứ năm, KH - CN trong LLSX mới không chỉ bao gồm khoa học kỹ thuật mà còn bao hàm cả khoa học xã hội.
Những đặc điểm trên đã thể hiện sự khác biệt giữa LLSX mới và LLSX trước đây, từ đó khẳng định tri thức chính là yếu tố nòng cốt của LLSX mới: “Vì tri thức có vai trò quan trọng trong toàn bộ nền kinh tế nên lực lượng sản xuất mới không chỉ có mặt trong những ngành sản xuất mới xuất hiện, mà còn lan tỏa, cải tạo, đổi mới các ngành sản xuất cũ của nền kinh tế. Như vậy, lực lượng sản xuất mới sẽ thay thế hoàn toàn lực lượng sản xuất cũ, qua một quá trình phát triển biện chứng, có sử dụng triệt để những tiền đề mà lực lượng sản xuất cũ tạo ra” [28, tr. Từ những phân tích chung đó, trong Chương 18 với tên gọi “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta”, các tác giả đã nhấn mạnh đường lối CNH - 11 HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức mà Đảng và Nhà nước ta đang triển khai là hoàn toàn đúng đắn, góp phần quan trọng vào mục tiêu đưa đất nước sớm trở thành một quốc gia công nghiệp hóa theo hướng hiện đại. Tác giả cũng khẳng định, để thực hiện được mục tiêu đó cần phải phát triển LLSX theo hướng hiện đại.
Cuốn sách của các tác giả Vũ Đình Cự và Trần Xuân Sầm là một công trình nghiên cứu khá tỉ mỉ và công phu. Cuốn sách đã cung cấp cho nghiên cứu sinh những vấn đề lí luận quan trọng và mới mẻ về LLSX hiện đại, đồng thời cũng cho thấy diện mạo mới của LLSX hiện đại và vai trò của LLSX hiện đại đối với sự phát triển xã hội. Công trình Về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất [67] do tác giả Phạm Văn Linh (2019) chỉ đạo biên soạn đã ghi lại toàn bộ những trích dẫn, luận điểm của C.Lênin từ các tác phẩm kinh điển, bàn về mối quan hệ giữa LLSX và QHSX. Đây là nguồn tài liệu hữu ích với tác giả luận án khi nghiên cứu lí luận những khái niệm về LLSX, các yếu tố cấu thành LLSX và QHSX có liên quan đến đề tài.
Ngoài các công trình kể trên, còn rất nhiều bài viết có nội dung có thể tham khảo liên quan đến việc nghiên cứu lí luận về LLSX. Bài viết: “Những đặc điểm của hệ thống công nghệ mới và lực lượng sản xuất mới tác động quyết định đến quá trình hình thành kinh tế tri thức”[27] của tác giả Vũ Đình Cự (2003) đã đưa ra những quan niệm về LLSX mới như sau: “Lực lượng sản xuất mới, tức là lực lượng sản xuất hiện đại, dựa trên hệ thống công nghệ mới, được đặc trưng bằng năng suất rất cao, hiệu quả lớn, ngày càng ít tác hại môi trường và ít gây mất cân bằng sinh thái (“thân” môi trường), tiêu hao ngày càng ít năng lượng và vật liệu cho một sản phẩm, đồng thời hàm lượng tri thức trong một sản phẩm ngày càng cao” [27, tr. Từ phân tích trên cho thấy, tác giả đã đồng nhất LLSX mới với LLSX hiện đại, nội hàm của khái niệm này gắn với trình độ phát triển theo hướng hiện đại của LLSX. Theo nhận định này, tác giả đã đưa ra những đặc trưng nổi bật của LLSX mới, dùng để phân biệt với LLSX cũ, mang nhiều yếu tố lạc hậu trước kia.
Qua đó, tác giả đã đề cao vai trò của KH - CN hiện đại trong việc hình thành nên LLSX mới. Tác giả còn chỉ ra sự khác biệt giữa LLSX mới dựa trên hệ thống công nghệ mới so 12 với LLSX cổ điển dựa trên thời kì công nghiệp cổ điển. LLSX cổ điển này có đối tượng chủ yếu là nguyên liệu, vật liệu, còn trong LLSX mới, đối tượng lao động ngoài những nguyên vật liệu còn có thông tin, dữ liệu, tri thức. Cũng theo tác giả, khi LLSX mới ra đời, nó không chỉ thay đổi diện mạo của một nền KT - XH mà còn làm “phát sinh một hệ quả quan trọng”, đó là toàn cầu hóa kinh tế.
Vì LLSX phát triển nên đã tạo ra một khối lượng hàng hóa dồi dào, không chỉ đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn hướng ra thị trường quốc tế. Tác giả viết: “Toàn cầu hóa kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhưng nguyên nhân do lực lượng sản xuất là quyết định. Nếu không có một lực lượng sản xuất mới đảm bảo một nguồn hàng hóa và dịch vụ vô cùng phong phú, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của toàn thế giới và một kết cấu hạ tầng thông tin cực kì mạnh mẽ như hiện nay thì chưa có toàn cầu hóa kinh tế” [27, tr. Theo tác giả Vũ Đình Cự, vì LLSX mới có hàm lượng tri thức cao, nên việc xuất hiện toàn cầu hóa kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến việc xuất hiện toàn cầu hóa tri thức bởi tri thức của con người không bị giới hạn bởi những khuôn khổ chật hẹp trong một vùng lãnh thổ, một quốc gia nhất định mà luôn có tính xã hội hóa, tính quốc tế rất cao.
Chính vì vậy, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, muốn phát triển LLSX theo hướng hiện đại, muốn gia nhập vào quá trình toàn cầu hóa LLSX cần chú trọng phát huy nguồn nhân lực có tri thức, có trình độ, tay nghề cao. Như vậy, trong bài viết, tác giả không chỉ đưa ra nội hàm khái niệm LLSX mới và LLSX hiện đại mà còn chỉ ra những tác động của LLSX mới tới sự phát triển của nền KT - XH cũng như quá trình toàn cầu hóa kinh tế, toàn cầu hóa LLSX. Bài viết: “Lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất - Giá trị cốt lõi và những vấn đề cần bổ sung, phát triển trong điều kiện mới” của Phạm Văn Linh (2019) được tuyển tập trong cuốn Giá trị cốt lõi của Chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong giai đoạn hiện nay [66] cũng đưa những vấn đề liên quan trực tiếp đến LLSX, QHSX và mối liên hệ biện chứng giữa LLSX và QHSX trong thời đại ngày nay. Tại mục II của bài viết, tác giả đã đưa ra những vấn đề cần 13 tiếp tục luận giải liên quan tới LLSX.
Tác giả nhận định: “Lực lượng sản xuất ngày nay đã vượt xa so với thời Mác.