Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục với đề tài "Xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói cho sinh viên sư phạm ở học phần Tiếng Việt thực hành" do nghiên cứu sinh Đỗ Thu Hà thực hiện tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (Bộ Giáo dục và Đào tạo), thuộc chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Văn và Tiếng Việt (mã số: 6214.0111), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thuý Hồng và PGS. Nguyễn Thị Hạnh, hoàn thành năm 2014.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dạy học về bản chất là quá trình giao tiếp sư phạm bằng ngôn ngữ giữa giáo viên và học sinh nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục. Kĩ năng nói (KNN) là công cụ nghề nghiệp trực tiếp của người giáo viên, không chỉ dùng để truyền đạt tri thức, gợi mở, hướng dẫn học sinh mà còn để tương tác với đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng xã hội. Thông tư ban hành Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học năm 2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định 6 tiêu chuẩn với 25 tiêu chí, trong đó có tới 9 tiêu chí liên quan trực tiếp đến kĩ năng giao tiếp và kĩ năng nói của giáo viên (như ứng xử với học sinh, đồng nghiệp, tìm hiểu đối tượng giáo dục, xây dựng môi trường học tập, phối hợp với gia đình và xã hội).

Tuy nhiên, trong chương trình đào tạo giáo viên tại các trường cao đẳng và đại học sư phạm, việc rèn luyện KNN cho sinh viên sư phạm (SVSP) chưa được chú trọng đúng mức:

  • Danh mục học phần bắt buộc trong chương trình khung 14 ngành sư phạm (ban hành ngày 28/06/2006) không có học phần độc lập nào dành cho việc rèn luyện KNN.
  • Phương pháp dạy học ở bậc đại học vẫn nặng về thuyết trình một chiều (theo khảo sát của Đào Thái Lai, thuyết trình chiếm 60,1%, trong khi thảo luận nhóm chiếm 35,2%, seminar chiếm 20,1%, đóng vai chiếm 6,2%), làm giảm cơ hội tương tác của người học.
  • Hình thức kiểm tra đánh giá chủ yếu là thi viết, rất ít sử dụng thi vấn đáp hoặc kiểm tra kĩ năng nói.
  • Khảo sát của Nguyễn Thị Mĩ Lộc chỉ ra khoảng 80% SVSP gặp khó khăn trong giao tiếp, 36,1% sinh viên ngại nêu thắc mắc và ý tưởng riêng khi thảo luận, 22,9% chỉ muốn nghe giảng thụ động.
  • Học phần Tiếng Việt thực hành (TVTH) được đưa vào giảng dạy đại cương từ năm học 1995-1996, bản chất là rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Việt, nhưng các giáo trình hiện hành đều tập trung vào kĩ năng đọc hiểu và tạo lập văn bản viết (nghị luận, khoa học, hành chính), hoàn toàn thiếu vắng hệ thống bài tập rèn luyện kĩ năng nói.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản của lí thuyết giao tiếp và lí thuyết dạy học hiện đại có ý nghĩa đối với việc phát triển KNN, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống bài tập (HTBT) hướng tới việc phát triển KNN cho SVSP ở học phần Tiếng Việt thực hành.
  2. Góp phần khẳng định tính khả thi của việc dạy học phát triển KNN cho SVSP qua học phần Tiếng Việt thực hành, từ đó chứng minh tính đúng đắn của định hướng phát triển toàn diện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ cho người học.
  3. Góp phần hiện thực hóa nhu cầu phát triển KNN của sinh viên sư phạm qua học phần Tiếng Việt thực hành.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án thực hiện 3 nhiệm vụ khoa học:

  1. Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng HTBT phát triển KNN ở học phần Tiếng Việt thực hành cho SVSP.
  2. Xác định các nguyên tắc, quy trình xây dựng HTBT phát triển KNN; tiến hành thiết kế HTBT phát triển KNN ở học phần Tiếng Việt thực hành cho SVSP.
  3. Triển khai thực nghiệm sư phạm, xử lí và đánh giá kết quả thực nghiệm nhằm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của HTBT đã xây dựng.

Giả thuyết khoa học

KNN có vai trò quan trọng đối với nghề dạy học, song việc rèn luyện KNN cho SVSP chưa được quan tâm đúng mức. Nếu xây dựng được một HTBT phát triển KNN ở học phần Tiếng Việt thực hành đảm bảo tính khoa học, phù hợp với đối tượng SVSP thì sẽ góp phần phát triển KNN cho sinh viên, nâng cao hiệu quả dạy học và tăng cường tính thiết thực của học phần này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học học phần Tiếng Việt thực hành ở trường sư phạm và hệ thống bài tập phát triển các kĩ năng sử dụng tiếng Việt, trọng tâm là KNN.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Khách thể tác động: Sinh viên cao đẳng sư phạm hệ chính quy.
    • Sản phẩm thực hành KNN: Ở dạng nói độc lập (thuyết trình) tập trung vào một phần hoặc toàn bộ bài trình bày; ở dạng nói tương tác (hội thoại) tập trung vào đơn vị đoạn thoại hoặc cuộc thoại.
    • Địa bàn và chương trình: Tập trung vào học phần Tiếng Việt thực hành tại các trường cao đẳng sư phạm, đồng thời bài tập có khả năng liên thông với các học phần Kĩ năng giao tiếp, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, Tâm lí học sư phạm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu ngoài nước xem kĩ năng giao tiếp bằng lời là năng lực cốt lõi và thiết kế các khóa học độc lập:

  • Các trường đại học lớn đưa vào chương trình các học phần chuyên biệt như: Oral Communication (Viện Đại học Texas Tech), Creating Community in the Classroom (Đại học Harvard), Fundamentals of Public Speaking (Viện Đại học Ferris State).
  • Về tầm quan trọng của KNN: Mojibur Rahman (2010) trong công trình Teaching Oral Communication Skills: A Task-based Approach xem giao tiếp hiệu quả là điều kiện mấu chốt để người học giải quyết công việc. Robert Barrass trong cuốn Speaking for yourself: a guide for students nhấn mạnh đại học phải rèn luyện cho sinh viên tư duy phản biện và kĩ năng nói. Sherwyn Morreale, Rebecca B. Rubin, Elizabeth Jones tiến hành điều tra trên 1.600 người (giảng viên, nhà tuyển dụng, nhà hoạch định chính sách), ghi nhận 87% đánh giá kĩ năng nói và nghe có tầm quan trọng đặc biệt trong truyền thông. James H. Stronge trong công trình Những phẩm chất của người giáo viên hiệu quả chứng minh kết quả kiểm tra năng lực ngôn ngữ của giáo viên tương quan thuận rõ rệt với thành tích học tập của học sinh.
  • Về nội dung và phương pháp: Nick Morgan trong cuốn Oral communication skills chia quy trình nói thành 3 bước (chuẩn bị, thực hiện, rút kinh nghiệm). Các nghiên cứu nghề nghiệp quốc tế xếp giao tiếp ở vị trí ưu tiên cao nhất: Bộ Lao động Mỹ và Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (ASTD) xác định 3/13 kĩ năng cốt lõi thuộc về giao tiếp (thuyết trình, ứng xử/tạo lập quan hệ, đàm phán); Hội đồng Kinh doanh Australia (BCA) cùng ACCI, DEST, ANTA (2002) xếp năng lực giao tiếp đứng đầu trong 8 năng lực hành nghề; Conference Board of Canada xếp năng lực giao tiếp đứng thứ nhất trong 6 năng lực thế kỷ 21. Phương pháp phát triển KNN chủ yếu thông qua bài tập tình huống mô phỏng nghề nghiệp.

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Ở cấp phổ thông: Nghiên cứu rèn luyện KNN cho học sinh tiểu học có các tác giả Nguyễn Trí, Trần Thị Hiền Lương, Đặng Thị Lệ Tâm, Phạm Thị Thu Hiền; cấp THCS và THPT có Nguyễn Thúy Hồng, Nguyễn Viết Chữ, Lê Đức Mậu, Lê Thị Thu Hằng. Nhìn chung, các nghiên cứu chỉ ra học sinh thiếu tự tin, diễn đạt khô cứng, thiếu lập luận. Khảo sát chương trình Ngữ văn THPT hiện hành của tác giả cho thấy nội dung dạy nói chỉ chiếm 5 tiết trên tổng số 94 tiết Làm văn toàn cấp (Lớp 10: 1 tiết "Trình bày một vấn đề"; Lớp 11: 2 tiết "Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn"; Lớp 12: 2 tiết gồm "Phát biểu theo chủ đề" và "Phát biểu tự do"). Tác giả Lê A cũng đã chỉ ra tình trạng coi nhẹ năng lực nói trong nhà trường phổ thông.
  • Ở bậc cao đẳng và đại học: Các giáo trình Tiếng Việt thực hành của Bùi Minh Toán, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp đều xác định mục tiêu phát triển kĩ năng viết và nói, nhưng phần nội dung và bài tập triển khai thực tế hầu như chỉ dành cho đọc hiểu và viết văn bản. Cuốn chuyên khảo Kiểm tra đánh giá trong giảng dạy Tiếng Việt thực hành của Nguyễn Chí Hòa (2012) đề xuất các kiểu bài thi theo 4 kĩ năng nhưng hướng đến đối tượng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ. Nghiên cứu của Đinh Thanh Huệ và Hoàng Hòa Bình bàn về rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ và đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy:

  1. Ở nước ngoài, việc rèn luyện KNN được tổ chức thành môn học riêng với hệ thống bài tập tình huống phong phú, nhưng đối tượng chủ yếu là sinh viên chung hoặc các ngành kinh tế, văn phòng, du lịch; chưa có công trình chuyên sâu thiết kế bài tập rèn luyện KNN cho sinh viên sư phạm.
  2. Ở Việt Nam, nghiên cứu về KNN chủ yếu dành cho học sinh tiểu học. Ở bậc đại học và cao đẳng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống việc xây dựng hệ thống bài tập phát triển KNN cho SVSP ở học phần Tiếng Việt thực hành. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm chuyển hóa tiềm năng của học phần TVTH thành công cụ rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp thực tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lí thuyết giao tiếp:
    • Hoạt động giao tiếp ngôn ngữ bao gồm 2 dạng: giao tiếp bằng văn bản (viết) và giao tiếp bằng lời (nói). Luận án định nghĩa: Kĩ năng nói là hình thức biểu hiện của năng lực giao tiếp bằng lời, dạng hành động được thực hiện một cách tích cực, tự giác dựa trên sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tri thức về ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói), những hiểu biết về văn hoá, xã hội và những điều kiện sinh học - tâm lí của một cá thể để đạt được mục đích giao tiếp đặt ra.
    • Các nhân tố giao tiếp chi phối hoạt động nói gồm: Nhân vật giao tiếp (người phát, người nhận); Mục đích giao tiếp (thông báo, trao đổi, thuyết phục; đích nhận thức và đích hành động); Nội dung giao tiếp; Hoàn cảnh giao tiếp (rộng và hẹp); Phương tiện và cách thức giao tiếp (ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, trực tiếp, gián tiếp).
    • Mô hình hoạt động giao tiếp (Sơ đồ 1.1 trong luận án):
Kí hiệu mô hình Nội dung biểu đạt trong sơ đồ giao tiếp
S, S' Vốn sống, vốn hiểu biết tích lũy thực tế của người nói (S) và người nghe (S')
N, N' Vốn ngôn ngữ của người nói (N) và người nghe (N')
D, D' Nội dung thông tin truyền tin từ người nói (D) và nội dung nhận tin/giải mã ở người nghe (D')
Mã hóa / Giải mã Quá trình chuyển nội dung tinh thần thành chuỗi lời nói và ngược lại
Kênh / Nhiễu Đường truyền thông tin và các rào cản âm thanh, phát âm lệch chuẩn gây sai lệch thông điệp
  • Mối quan hệ tương liên giữa kĩ năng nói và nghe: Nói là hoạt động tạo lập, nghe là hoạt động tiếp nhận. Trong giao tiếp hội thoại, hai hoạt động này luôn luân phiên đổi vai, hỗ trợ lẫn nhau.
  • Tiêu chí đánh giá KNN: Đánh giá dựa trên 2 thành tố chính: Nội dung (phù hợp mục đích của từng KNN bộ phận) và Cách nói (sử dụng yếu tố phi ngôn ngữ như nét mặt, ánh mắt, cử chỉ; lời nói trôi chảy, âm lượng, nhịp điệu, giọng điệu phù hợp; phát âm đúng chuẩn chính tả tiếng Việt).
  1. Lí thuyết dạy học hiện đại:

    • Dạy học định hướng phát triển năng lực: Chuyển từ truyền thụ kiến thức sang hình thành năng lực hành động, tích hợp kĩ năng để giải quyết tình huống thực tiễn nghề nghiệp.
    • Đổi mới phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp: Đặt người học vào các tình huống giao tiếp giả định, tăng cường hoạt động thảo luận nhóm, đóng vai, xử lí tình huống sư phạm.
    • Đổi mới kiểm tra đánh giá: Kết hợp đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết, sử dụng hình thức kiểm tra nói/vấn đáp với tiêu chí cụ thể.
  2. Lí thuyết về bài tập: Xác định bài tập là phương tiện tổ chức hoạt động học tập có mục đích; hệ thống bài tập phát triển KNN đóng vai trò chuyển hóa tri thức ngôn ngữ thành kĩ năng hành động thực tế cho SVSP.

Phương pháp nghiên cứu

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu lí thuyết về ngôn ngữ học giao tiếp, lí thuyết hoạt động lời nói, lí luận dạy học và phương pháp dạy học tiếng Việt.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra bằng bảng hỏi (phiếu khảo sát dành cho giảng viên dạy TVTH và phiếu khảo sát dành cho SVSP đã học xong TVTH tại các trường cao đẳng sư phạm); quan sát giờ học; phỏng vấn sâu chuyên gia, giảng viên và sinh viên; phân tích chương trình, giáo trình.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm theo 2 vòng (vòng 1 và vòng 2) có nhóm thực nghiệm (TN) và nhóm đối chứng (ĐC) tương đương về học lực để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của HTBT.
  • Phương pháp thống kê toán học và xử lí số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS để tính toán các tham số (điểm trung bình $\overline{X}$, độ lệch chuẩn $S$, hệ số biến thiên $V$), vẽ biểu đồ phân bố tần suất điểm và sơ đồ đường lũy tiến điểm bài kiểm tra trước và sau thực nghiệm.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các văn bản quy phạm pháp luật, chương trình khung đào tạo giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (2009).
  • Bộ giáo trình Tiếng Việt thực hành của các tác giả Nguyễn Minh Thuyết, Bùi Minh Toán.
  • Dữ liệu khảo sát thực trạng giảng viên và sinh viên tại các trường Cao đẳng Sư phạm: CĐSP Hà Tây, CĐSP Hà Nam, CĐSP Vĩnh Phúc, CĐSP Thái Nguyên, CĐSP Hòa Bình...
  • Dữ liệu bài kiểm tra định lượng trước và sau thực nghiệm của các lớp thực nghiệm và đối chứng qua 2 vòng thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói cho sinh viên sư phạm ở học phần Tiếng Việt thực hành

Chương 1 (50 trang, từ trang 24 đến trang 73) tập trung xác lập cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài:

  • Cơ sở lí luận: Luận giải kĩ năng nói từ góc độ lí thuyết giao tiếp (khái niệm, các nhân tố giao tiếp, mô hình mã hóa - giải mã, quan hệ tương liên giữa nghe và nói) và lí thuyết dạy học hiện đại (dạy học định hướng năng lực, dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp, đổi mới kiểm tra đánh giá). Xác định các kĩ năng nói bộ phận cần phát triển cho SVSP và vai trò của bài tập.
  • Xác định 5 kĩ năng nói bộ phận cần phát triển cho SVSP (Bảng 1.1): Dựa trên đặc thù lao động nghề nghiệp sư phạm và kết quả khảo sát nhu cầu sinh viên cùng khuyến nghị của giảng viên, luận án xác định 5 kĩ năng nói bộ phận:
    1. Kĩ năng dẫn nhập (KNDN): Mở đầu cuộc giao tiếp, đặt vấn đề, thu hút sự chú ý của người nghe, thiết lập quan hệ giao tiếp.
    2. Kĩ năng thông báo (KNTB): Trình bày thông tin, diễn giải nội dung bài học, chỉ thị nhiệm vụ một cách chính xác, mạch lạc, cô đọng.
    3. Kĩ năng trao đổi thảo luận (KNTĐTL): Lắng nghe, đặt câu hỏi, phản hồi, điều hành hoặc tham gia thảo luận nhóm, giải quyết các bất đồng ý kiến.
    4. Kĩ năng thuyết phục (KNTP): Sử dụng lí lẽ, dẫn chứng và cảm xúc để làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh, phụ huynh hoặc đồng nghiệp.
    5. Kĩ năng kết thúc (KNKT): Tóm lược nội dung cốt lõi, rút ra kết luận, đánh giá và giao nhiệm vụ tiếp nối.
  • Cơ sở thực tiễn: Khảo sát học phần TVTH và thực trạng KNN của sinh viên tại các trường cao đẳng sư phạm qua phiếu khảo sát (Bảng 1.2: Số lượng phiếu khảo sát tại các trường CĐ). Kết quả tổng hợp mức độ biểu hiện về KNN của sinh viên (Bảng 1.3 và Biểu đồ 1.1 đến Biểu đồ 1.6) ghi nhận:
    • Sinh viên còn bộc lộ nhiều hạn chế về kĩ năng nói so với yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên.
    • Về KNDN: Đa số sinh viên vào đề khô cứng, rập khuôn, chưa tạo được hứng thú cho học sinh.
    • Về KNTB: Tốc độ nói chưa hợp lí, nói như đọc tài liệu chuẩn bị sẵn, diễn đạt thiếu chiều sâu và ít sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ.
    • Về KNTĐTL: Sinh viên e dè, thụ động, kĩ năng đặt câu hỏi gợi mở và xử lí phản hồi tình huống còn yếu.
    • Về KNTP: Thiếu lí lẽ thuyết phục, lập luận lỏng lẻo, chưa biết kết hợp giữa lập luận logic và tình cảm sư phạm.
    • Về KNKT: Phần kết thúc thường vội vã, chỉ dừng lại ở việc tuyên bố kết thúc mà chưa biết khái quát vấn đề trọng tâm.

Chương 2: Hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói ở học phần Tiếng Việt thực hành

Chương 2 (59 trang, từ trang 74 đến trang 131) trình bày nguyên tắc, quy trình và thiết kế chi tiết HTBT phát triển KNN:

  • 5 nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập:
    1. HTBT phải góp phần thực hiện mục tiêu dạy học kĩ năng nói.
    2. HTBT phải đảm bảo tính hệ thống, tính chính xác và tính khoa học.
    3. HTBT vừa phải phù hợp với trình độ của sinh viên, vừa đảm bảo tính đa dạng để tạo sức hấp dẫn.
    4. HTBT phải góp phần thể hiện phương pháp dạy học tích cực.
    5. HTBT cần phản ánh được thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của giáo viên ở trường phổ thông.
  • Quy trình 6 bước xây dựng hệ thống bài tập:
    • Bước 1: Xác định mục đích xây dựng hệ thống bài tập.
    • Bước 2: Xác định chủ đề của hệ thống bài tập (Sơ đồ 2.1).
    • Bước 3: Xác định các dạng bài tập sẽ xây dựng.
    • Bước 4: Xây dựng ma trận hệ thống bài tập (Bảng 2.1).
    • Bước 5: Thực hiện xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt thực hành.
    • Bước 6: Thử nghiệm và điều chỉnh hệ thống bài tập.
  • Cấu trúc 6 nhóm bài tập phát triển kĩ năng nói:
Nhóm bài tập Mục tiêu kĩ năng rèn luyện Dạng bài tập chủ yếu trong hệ thống
Nhóm 1: Kĩ năng dẫn nhập (KNDN) Rèn luyện năng lực tạo bầu không khí tâm lí ban đầu, kết nối kiến thức cũ - mới, kích thích chú ý của người nghe Bài tập tạo tình huống vào bài dạy; bài tập mở đầu cuộc họp phụ huynh; bài tập dẫn nhập khi phát biểu trước tập thể sư phạm.
Nhóm 2: Kĩ năng thông báo (KNTB) Rèn luyện khả năng lựa chọn, xử lí và diễn đạt thông tin rõ ràng, cô đọng, khúc chiết, chuẩn mực ngữ pháp Bài tập giải thích khái niệm học tập; bài tập phổ biến quy chế, điều lệ trường học; bài tập truyền đạt mệnh lệnh sư phạm.
Nhóm 3: Kĩ năng trao đổi thảo luận (KNTĐTL) Rèn luyện khả năng lắng nghe phản hồi, đặt câu hỏi phân nhánh, điều hành nhóm, tranh luận học thuật Bài tập đóng vai tổ chức thảo luận chuyên đề; bài tập chất vấn và trả lời câu hỏi phản biện; bài tập xử lí xung đột ý kiến.
Nhóm 4: Kĩ năng thuyết phục (KNTP) Rèn luyện cách lập luận logic, sử dụng dẫn chứng thực tế, tác động tâm lí để thay đổi thái độ người học Bài tập thuyết phục học sinh cá biệt tham gia phong trào lớp; bài tập vận động phụ huynh học sinh; bài tập bảo vệ quan điểm sư phạm.
Nhóm 5: Kĩ năng kết thúc (KNKT) Rèn luyện kĩ năng tóm lược ý chính, đọng lại thông điệp then chốt, tạo ấn tượng mở cho hoạt động kế tiếp Bài tập tổng kết tiết học; bài tập đúc kết buổi họp lớp; bài tập kết thúc bài thuyết trình hội thảo sư phạm.
Nhóm 6: Phát triển tổng hợp các KNN Phối hợp đồng bộ cả 5 kĩ năng thành phần trong một tình huống sư phạm giả định trọn vẹn Bài tập thuyết trình hoàn chỉnh một đề tài giáo dục; bài tập đóng vai thực hiện một cuộc trao đổi nghiệp vụ toàn diện.
  • Phương hướng vận dụng vào dạy học Tiếng Việt thực hành: Luận án đề xuất phương hướng vận dụng linh hoạt: kết hợp bài tập rèn luyện trên lớp với bài tập tự học ở nhà; tích hợp trong các giờ thực hành đọc hiểu và tạo lập văn bản; sử dụng đa dạng hình thức làm việc cá nhân, làm việc cặp đôi và thảo luận nhóm.

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Chương 3 (34 trang, từ trang 132 đến trang 166) báo cáo kết quả tổ chức thực nghiệm sư phạm:

  • Tổ chức thực nghiệm: Tiến hành theo 2 vòng thực nghiệm sư phạm (vòng 1 và vòng 2) tại các lớp thực nghiệm (TN) và đối chứng (ĐC) ở trường CĐSP (Bảng 3.1: Đối tượng lớp dạy học TN và ĐC vòng 1; Bảng 3.2: Đối tượng lớp dạy học TN và ĐC vòng 2).
  • Kiểm soát biến đầu vào: Phân tích điểm học lực chung và điểm bài kiểm tra trước thực nghiệm cho thấy tương quan năng lực ban đầu giữa nhóm TN và nhóm ĐC là đồng đều, không có sự chênh lệch mang ý nghĩa thống kê (Biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3, 3.6 và Sơ đồ 3.1, 3.3).
  • Tiêu chí và công cụ đánh giá: Đánh giá thông qua quá trình tham gia bài học thực nghiệm, bài tập thực hành trên lớp và 2 bài kiểm tra định lượng (bài kiểm tra trước thực nghiệm và bài kiểm tra sau thực nghiệm). Đánh giá dựa trên thang điểm chuẩn xác định cụ thể mức độ đạt được về nội dung và cách thức biểu đạt (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ).
  • Kết quả thực nghiệm định lượng:
    • Giai đoạn thực nghiệm vòng 1 (Bảng 3.3, Bảng 3.4; Biểu đồ 3.4, 3.5; Sơ đồ 3.2): Điểm trung bình bài kiểm tra sau thực nghiệm của nhóm TN cao hơn rõ rệt so với nhóm ĐC; phân bố tần suất điểm của lớp TN lệch về phía điểm khá và giỏi; đường lũy tiến điểm của lớp TN nằm hoàn toàn về phía bên phải đường lũy tiến của lớp ĐC.
    • Giai đoạn thực nghiệm vòng 2 (Bảng 3.5, Bảng 3.6; Biểu đồ 3.7; Sơ đồ 3.4): Kết quả lặp lại nhất quán quy luật ở vòng 1. Tỉ lệ sinh viên đạt điểm khá, giỏi ở nhóm TN tăng cao vượt bậc so với trước thực nghiệm và so với nhóm ĐC; tỉ lệ điểm trung bình và yếu giảm thiểu.
  • Kết luận rút ra từ thực nghiệm: Các số liệu thống kê chứng minh giả thuyết khoa học của luận án là đúng đắn; hệ thống bài tập đã xây dựng có tính khả thi cao, góp phần cải thiện rõ rệt năng lực nói và sự tự tin sư phạm cho sinh viên.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc phát triển KNN cho SVSP dưới góc độ lí thuyết giao tiếp (nhấn mạnh các nhân tố giao tiếp, mô hình hoạt động lời nói, mối quan hệ tương liên giữa kĩ năng nghe và kĩ năng nói) và lí thuyết dạy học hiện đại (dạy học định hướng năng lực, dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp).
  2. Xác lập hệ thống 5 kĩ năng nói bộ phận mang tính đặc thù nghề nghiệp cho SVSP gồm: kĩ năng dẫn nhập, kĩ năng thông báo, kĩ năng trao đổi thảo luận, kĩ năng thuyết phục và kĩ năng kết thúc.
  3. Xây dựng hệ thống 5 nguyên tắc khoa học và quy trình 6 bước cụ thể để thiết kế hệ thống bài tập phát triển KNN trong học phần Tiếng Việt thực hành.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Thiết kế hoàn chỉnh một hệ thống bài tập gồm 6 nhóm bài tập thực hành (5 nhóm kĩ năng bộ phận và 1 nhóm bài tập tổng hợp) bám sát các tình huống thực tiễn nghề nghiệp của người giáo viên phổ thông, kèm theo ma trận phân bố bài tập rõ ràng.
  2. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng nói của sinh viên sư phạm dựa trên 2 thành tố: nội dung và cách nói (bao gồm việc sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ, độ trôi chảy, âm lượng, nhịp điệu, ngữ điệu và phát âm chuẩn chính tả).
  3. Đề xuất phương hướng, cách thức tổ chức dạy học thực hành kĩ năng nói trong học phần Tiếng Việt thực hành, cung cấp tài liệu phục vụ trực tiếp cho giảng viên và sinh viên các trường cao đẳng sư phạm.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với cơ quan quản lý và các trường sư phạm: Cần điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng cân đối thời lượng giữa 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết); bổ sung các bài tập rèn luyện KNN vào giáo trình Tiếng Việt thực hành; đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá, đưa nội dung kiểm tra kĩ năng nói vào các kì thi học phần.
  • Đối với giảng viên: Chuyển đổi phương pháp giảng dạy từ thuyết trình một chiều sang tổ chức hoạt động giao tiếp tương tác; tích cực sử dụng các phương pháp dạy học tích cực như thảo luận nhóm, đóng vai, giải quyết tình huống; chú ý uốn nắn cả nội dung nói và cách nói cho sinh viên.
  • Đối với sinh viên sư phạm: Cần nâng cao ý thức tự giác rèn luyện kĩ năng nói thông qua bài tập thực hành, tích cực tham gia các hoạt động trao đổi, tranh luận trên lớp và nắm vững chuẩn nghề nghiệp để chuẩn bị hành trang công tác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

Theo văn bản luận án trình bày:

  • Vấn đề phát triển KNN cho sinh viên sư phạm còn khá mới mẻ trong nghiên cứu lí luận cũng như thực tiễn triển khai tại Việt Nam, nên luận án không đặt tham vọng giải quyết toàn diện mọi vấn đề mà chỉ xem đây là những bước đầu tiên.
  • Phạm vi đối tượng thực nghiệm và nghiên cứu mới chỉ tập trung vào sinh viên cao đẳng sư phạm hệ chính quy, chưa mở rộng khảo nghiệm trên đối tượng sinh viên đại học sư phạm.
  • Sản phẩm rèn luyện KNN của sinh viên trong khuôn khổ học phần mới dừng lại ở các bài trình bày ngắn (dạng thuyết trình độc lập) và các đoạn thoại/cuộc thoại (dạng hội thoại tương tác), chưa thể bao quát toàn bộ các tình huống giao tiếp phức tạp trong thực tế đời sống giáo dục.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu và áp dụng hệ thống bài tập phát triển KNN cho đối tượng sinh viên các trường đại học sư phạm thuộc nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau.
  • Nghiên cứu cơ chế tích hợp hệ thống bài tập phát triển KNN sang các học phần nghiệp vụ sư phạm liên quan như: Kĩ năng giao tiếp, Thực hành rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, Tâm lí học sư phạm.
  • Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (video, ghi âm kĩ thuật số) trong việc hỗ trợ sinh viên tự ghi hình, tự phân tích và tự đánh giá kĩ năng nói của bản thân.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lí luận và PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt: Luận án là tài liệu tham khảo về khung lí thuyết giao tiếp ứng dụng, quy trình thiết kế bài tập thực hành tiếng Việt và phương pháp tổ chức thực nghiệm sư phạm 2 vòng có đối chứng, sử dụng phần mềm thống kê xử lí số liệu khoa học.
  • Đối với giảng viên các trường đại học và cao đẳng sư phạm: Luận án cung cấp hệ thống 6 nhóm bài tập kèm ma trận chi tiết có thể sử dụng trực tiếp trong giảng dạy học phần Tiếng Việt thực hành; đồng thời gợi mở phương pháp đánh giá kĩ năng nói của sinh viên bằng các tiêu chí cụ thể.
  • Đối với sinh viên sư phạm: Là tài liệu tự học và rèn luyện các kĩ năng thành phần (mở bài, truyền đạt thông tin, đặt câu hỏi, thuyết phục, kết thúc), giúp sinh viên khắc phục sự rụt rè và nâng cao năng lực biểu đạt ngôn ngữ trước tập thể.
  • Đối với các nhà biên soạn chương trình và giáo trình: Cung cấp căn cứ thực tiễn để biên soạn bổ sung mảng nội dung rèn luyện kĩ năng nói trong giáo trình Tiếng Việt thực hành, góp phần cân đối tỉ lệ giữa dạy viết và dạy nói trong các trường sư phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả chọn học phần Tiếng Việt thực hành để phát triển kĩ năng nói cho sinh viên sư phạm?

Theo luận án, Tiếng Việt thực hành là học phần mang bản chất thực hành ngôn ngữ, được giảng dạy tại hầu hết các trường sư phạm. Mục tiêu ban đầu của học phần là rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt (viết và nói). Tuy nhiên, các giáo trình hiện hành đều tập trung vào kĩ năng đọc hiểu và viết văn bản, bỏ trống kĩ năng nói. Việc lựa chọn học phần này giúp khai thác tiềm năng sẵn có của môn học, bổ sung mảng kiến thức và kĩ năng đang bị khuyết thiếu mà không làm xáo trộn kết cấu khung chương trình đào tạo của nhà trường.

2. Luận án xác định những kĩ năng nói bộ phận nào cần rèn luyện cho sinh viên sư phạm?

Luận án xác định 5 kĩ năng nói bộ phận dựa trên nhu cầu của sinh viên và khuyến nghị của giảng viên:

  1. Kĩ năng dẫn nhập (KNDN).
  2. Kĩ năng thông báo (KNTB).
  3. Kĩ năng trao đổi thảo luận (KNTĐTL).
  4. Kĩ năng thuyết phục (KNTP).
  5. Kĩ năng kết thúc (KNKT). Bên cạnh đó, luận án thiết kế thêm nhóm bài tập phát triển tổng hợp để phối hợp đồng bộ các kĩ năng trên trong một tình huống sư phạm trọn vẹn.

3. Hệ thống bài tập trong luận án được xây dựng dựa trên những nguyên tắc nào?

Hệ thống bài tập được xây dựng dựa trên 5 nguyên tắc khoa học:

  1. Góp phần thực hiện mục tiêu dạy học kĩ năng nói.
  2. Đảm bảo tính hệ thống, tính chính xác và tính khoa học trong việc phát triển KNN.
  3. Phù hợp với trình độ của sinh viên, đảm bảo tính đa dạng để tạo sức hấp dẫn.
  4. Góp phần thể hiện phương pháp dạy học tích cực.
  5. Phản ánh được thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của giáo viên ở trường phổ thông.

4. Quy trình xây dựng hệ thống bài tập phát triển kĩ năng nói gồm những bước nào?

Quy trình xây dựng gồm 6 bước chặt chẽ:

  1. Xác định mục đích xây dựng hệ thống bài tập.
  2. Xác định chủ đề của hệ thống bài tập.
  3. Xác định các dạng bài tập sẽ xây dựng.
  4. Xây dựng ma trận hệ thống bài tập.
  5. Thực hiện xây dựng hệ thống bài tập Tiếng Việt thực hành.
  6. Thử nghiệm và điều chỉnh hệ thống bài tập.

5. Kết quả thực nghiệm sư phạm 2 vòng chứng minh điều gì?

Kết quả kiểm tra trước và sau thực nghiệm được xử lí qua phần mềm thống kê SPSS cho thấy: ở cả hai vòng thực nghiệm, điểm trung bình của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng; tỉ lệ sinh viên đạt điểm khá, giỏi ở nhóm thực nghiệm tăng rõ rệt; đường lũy tiến điểm của nhóm thực nghiệm lệch hẳn về phía điểm cao so với nhóm đối chứng. Điều này chứng minh hệ thống bài tập có tính khả thi, hiệu quả và giả thuyết khoa học đặt ra là hoàn toàn đúng đắn.


Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Thu Hà là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dạy học tiếng Việt, giải quyết vấn đề rèn luyện kĩ năng nói cho sinh viên sư phạm thông qua học phần Tiếng Việt thực hành. Dựa trên cơ sở lí thuyết giao tiếp ngôn ngữ và lí thuyết dạy học hiện đại, luận án đã xác định 5 kĩ năng nói bộ phận cốt lõi, đề xuất 5 nguyên tắc cùng quy trình 6 bước để xây dựng hệ thống 6 nhóm bài tập thực hành gắn liền với thực tiễn nghề nghiệp giáo viên. Kết quả thực nghiệm sư phạm 2 vòng qua các số liệu thống kê định lượng bằng phần mềm SPSS đã khẳng định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống bài tập trong việc nâng cao kĩ năng giao tiếp bằng lời cho sinh viên sư phạm. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên và các nhà biên soạn chương trình trong việc đổi mới dạy học tiếng Việt theo định hướng phát triển năng lực.