CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới 1. Tổng quan về dạy học phân hóa Trên thế giới quan điểm dạy học phân hóa được đưa ra từ rất sớm, năm 1970 ở Mỹ các nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra khái niệm “ Learning styles “.
Hay gọi là phong cách học dựa trên phương pháp tiếp cận khác nhau. Phương pháp dạy học này đặc biệt chú ý đến cá nhân, tạo điều kiện để cá nhân học tập sao cho đạt được kết quả tốt nhất. GV phải khám phá ra những phong cách học tập của HS và tìm cách thích ứng với phong cách đó. Đến năm 1978 GS Rita Dun và Kennet Dun cùng các đồng nghiệp đã cho ra đời cuốn sách: “ Dạy sinh viên thông qua phong cách học tập cá nhân của họ” và đã được nhiều trường đại học ở Mỹ triển khai có hiệu quả.
Đến năm 1974 cũng theo quan điểm đó GS Carol Ann Tomlinson ở trường địa học Virgina – Mỹ đã đưa ra một quan điểm “The differentiated classroom”[36]. Hay còn gọi là “Lớp học phân hóa” , người học khác nhau sẽ có phương pháp học tập khác nhau để đạt được kết quả tốt nhất. Quan điểm dạy học này đã nhanh chóng được nhiều nước ở châu Âu (trong đó có Bỉ) triển khai mạnh mẽ cho đến bây giờ và có hiệu quả tốt. Dạy học phân hóa không những phân loại người học theo năng lực nhận thức mà còn là phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng dựa vào việc am hiểu từng cá thể, GV tiếp cận người học ở các phương diện khác nhau: năng lực nhận thức, hoàn cảnh sống, tâm lí, năng khiếu, về mơ ước trong cuộc sống, … Vì thế GV phải “ tìm để giảng dạy và hiểu để giáo dục”.
Tổng quan về phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Bắt đầu từ thập niên 70 của thế kỷ XX, ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là Liên Xô, vấn đề rèn luyện năng lực và năng lực sáng tạo cho HS trong nhà trường được đặc biệt quan tâm, điển hình là các tác giả I. Cuối thế kỉ XX đầu thế kỉ XXI, tiếp tục có những công trình nghiên cứu và bài viết về tư duy sáng tạo và phát triển sáng tạo của RobertZ.Strenberg và Wendy 6 M. Howard Gardner, Giáo sư tâm lý học của đại học Harvard (Mỹ) (1996) khẳng định rằng: Để giải quyết một vấn đề“có thực” trong cuộc sống thì con người không thể huy động duy nhất một mặt của biểu hiện trí tuệ nào đó mà phải kết hợp nhiều mặt biểu hiện của trí tuệ liên quan đến nhau. Sự kết hợp đó tạo thành năng lực cá nhân, H.Gardner đã kết luận rằng: Năng lực phải được thể hiện thông qua hoạt động có kết quả và có thể đánh giá hoặc đo đạc được [34, tr.
Tổng quan về dạy học phân hóa Trong những năm gần đây đổi mới phương pháp dạy học không chỉ là vấn đề của ngành giáo dục mà còn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Vì thế mà đã có rất nhiều nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực này dựa trên quan điểm dạy học phân hóa, các phương pháp dạy học theo hợp đồng, dạy học theo góc và dạy học theo dự án là những phương pháp dạy học đáp ứng được quan điểm dạy học phân hóa. Để tìm hiểu về quan điểm dạy học phân hóa, về các PPDH trên chúng tôi tìm thông tin trên internet và tham khảo danh mục các luận văn thạc sĩ đã bảo vệ chúng tôi tìm thấy một số kết quả như sau: - Luận văn Th.S Nguyễn Văn Quý, Trường ĐHSP Huế (2010). “Dạy học phân hóa bằng hệ thống bài tập ở phần phản ứng oxi hóa khử và phi kim lớp 10 THPT”.S Nguyễn Minh Đức, Trường ĐHGD – ĐHQG Hà Nội (2011).
“Vận dụng dạy học theo góc vào phần sự điện li chương trình hóa học lớp 11 nâng cao với sự hỗ trợ của CNTT”.S Nguyễn Thị Kim Hương, Trường ĐHSP Hà Nội (2012). “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập phân hóa phần kim loại lớp 12 chương trình nâng cao THPT”.S Phan Thị Nguyệt, Trường ĐHSP Hà Nội (2012). “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập phân hóa phần phi kim lớp 11 nâng cao THPT”.S Đinh Thị Ngọc Oanh, Trường ĐHGD – ĐHQG Hà Nội (2012). “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập phân hóa phần phi kim lớp 10 THPT”.S Ngô Thị Dung, Trường ĐHSP Hà Nội ( 2014).
“Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa phần Đại cương về hóa hữu cơ và Hidrocacbon no lớp 11 ở trường THPT”. Nhìn nhận lại vấn đề, chúng tôi nhận thấy dạy học theo quan điểm dạy học phân hóa đang ngày càng được các nhà giáo dục nước ta nói chung và GV dạy học môn Hóa học nói riêng trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học như hiện nay. Tổng quan về xây dựng hệ thống bài tập chương Hidrocacbon no để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS Thông qua việc tìm hiểu trên internet và tham khảo danh mục các luận văn thạc sĩ đã bảo vệ tôi nhận thấy rằng đã có một số đề tài nghiên cứu về dạy học phần Hidrocacbon-Hóa học 11 THPT và dạy học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS ở Việt Nam: - Lê Vân Anh (2013) “Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trường trung học phổ thông (phần kiến thức hóa học cơ sở chung)”. Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học K22, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Nguyễn Thị Duyên (2012) “Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học 11 phần hiđrocacbon theo tiếp cận PISA”. Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học K22, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. - Nguyễn Thị Mai Hương (2011) “Lựa chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 nâng cao nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trường trung học phổ thông”. Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học K21, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
- Đào Thị Hồng Thi (2012) Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học phần phi kim lớp 10 nhằm phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong bồi dưỡng 8 học sinh giỏi ở trường trung học phổ thông”. Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Hóa học K22, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. - Trương Đức Tuấn (2011) “Vận dụng phương pháp dạy học hợp tác nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trung học phổ thông (chương Hiđrocacbon không no – Lớp 11, nâng cao)”. Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học, Trường ĐH Giáo dục – ĐH Quốc gia Hà Nội, 2011.
Các nghiên cứu này còn mang tính lẻ tẻ, thiếu tính hệ thống và chỉ hướng đến một năng lực cụ thể thông qua dạy học hoặc sử dụng bài tập ở một phần cụ thể và chưa có nhiều đề tài nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS thông qua việc xây dựng hệ thống bài tập phân hóa chương Hidrocacbon no. Định hướng đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam sau năm 2015 1. Sự cần thiết đổi mới giáo dục phổ thông Việt Nam Qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài.
Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh. Yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao. Nếu không đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước. Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.
Thực chất cạnh tranh 9 giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế” và “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân”. Định hướng đổi mới Giáo dục phổ thông Viêt Nam theo hướng phát triển năng lực cho HS [6],[11].
Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã đề xuất định hướng đổi mới về giáo dục để đạt được chuẩn đầu ra cho năng lực của chương trình giáo dục trung học phổ thông những năm sắp tới như sau: Các năng lực Biểu hiện chung Năng lực tự học a) Xác định nhiệm vụ học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp; mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao hơn những khía cạnh còn yếu kém.