Tổng quan nghiên cứu
Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò là động lực cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh của từng vùng kinh tế và địa phương. Theo kết quả Tổng điều tra dân số, Việt Nam bước vào giai đoạn cơ cấu dân số vàng với trên 50% tổng dân số nằm trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi, trong đó hơn 45% lực lượng lao động dưới 54 tuổi. Mặc dù tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đã tăng từ 7,6% ở giai đoạn đầu đổi mới lên mức gần 30%, nhưng thực tế nguồn nhân lực chất lượng cao hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 35% đến 40% nhu cầu tuyển dụng thực tế của cộng đồng doanh nghiệp.
Quận Hà Đông, sau khi được điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 08/05/2009 của Chính phủ để trở thành quận trực thuộc Thủ đô Hà Nội, sở hữu quy mô dân số trên 226.687 nhân khẩu với tỷ lệ lao động chiếm hơn 50% dân số. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đang tạo ra sức ép lớn lên thị trường lao động tại chỗ: diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi lớn trong khi trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động chưa theo kịp tốc độ phát triển các ngành công nghiệp và thương mại dịch vụ hiện đại.
Luận văn thạc sĩ tập trung giải quyết bài toán: Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao tại quận Hà Đông giai đoạn 2000 - 2010, nhận diện các điểm nghẽn cơ bản và xác lập các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 38,2% năm 2010 lên trên 70% vào năm 2020, góp phần trực tiếp gia tăng chỉ số phát triển con người và nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế bền vững cho địa bàn quận.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng trên nền tảng kết hợp các lý thuyết kinh tế học phát triển và quản trị nhân lực hiện đại:
Thứ nhất, Lý thuyết Vốn con người của Theodore Schultz và Gary Becker, được phát triển thêm bởi Bardhan và Udry (1999), khẳng định rằng đầu tư vào con người thông qua giáo dục, đào tạo kỹ năng chuyên môn và chăm sóc y tế là hình thức tích lũy vốn quan trọng nhất, mang lại tỷ suất sinh lời cao hơn việc tích lũy tư bản vật chất đơn thuần. Giá trị của vốn con người thể hiện ở năng lực sáng tạo, kỹ năng làm chủ công nghệ và năng suất lao động thực tế.
Thứ hai, Khung lý thuyết về Phát triển con người của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), lấy Chỉ số Phát triển Con người (HDI) làm thước đo tổng hợp. HDI bao hàm 3 trụ cột cơ bản: tăng trưởng kinh tế (GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương PPP), phát triển giáo dục (tỷ lệ biết chữ và tỷ lệ nhập học các cấp) và sức khỏe cộng đồng (tuổi thọ bình quân khi sinh).
Luận văn chuẩn hóa các khái niệm cốt lõi: Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của con người bao gồm thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lý - đạo đức; Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh hoa gồm cán bộ lãnh đạo quản lý giỏi, đội ngũ chuyên gia nghiên cứu khoa học - công nghệ, và lực lượng lao động kỹ thuật lành nghề được đào tạo bài bản từ bậc cao đẳng, đại học trở lên hoặc có tay nghề bậc cao; Phát triển nguồn nhân lực là quá trình biến đổi có chủ đích về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm tối ưu hóa năng suất xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp đa dạng các công cụ phân tích dữ liệu định lượng và định tính:
Nguồn dữ liệu nghiên cứu: Tác giả khai thác nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2010, các báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ của UBND quận Hà Đông, cùng các tài liệu khảo sát của Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương (CIEM). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phiếu điều tra chuyên đề về lao động và việc làm tại thời điểm ngày 01/06/2010 trên địa bàn quận.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát gồm 1.250 người lao động từ 15 tuổi trở lên phân bố tại 17 phường thuộc quận Hà Đông. Tác giả áp dụng kỹ thuật chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phân bổ theo tỷ lệ cấu trúc kinh tế: khu vực làng nghề truyền thống (Vạn Phúc, Đa Sỹ), khu vực đô thị mới và các vùng nông nghiệp đang chuyển đổi đất canh tác. Lý do lựa chọn: Quy mô mẫu 1.250 đảm bảo độ tin cậy thống kê trên 95%, phản ánh chính xác tính chất đan xen phức tạp giữa quá trình đô thị hóa nhanh và sự biến động cơ cấu nghề nghiệp của cư dân địa phương.
Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (2000 - 2010) và phương pháp mô hình hóa dữ liệu (thiết lập các bảng chéo, biểu đồ cơ cấu). Sự kết hợp này giúp bóc tách rõ mối quan hệ tương quan giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và sự biến động về trình độ chuyên môn của lực lượng lao động.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình xử lý và phân tích số liệu thực tế tại quận Hà Đông giai đoạn 2000 - 2010 đã làm sáng tỏ ba phát hiện trọng tâm:
Thứ nhất, quy mô lao động qua đào tạo tăng đều nhưng lực lượng nhân lực chất lượng cao thực tế vẫn ở mức thấp. Tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật trên địa bàn quận tăng từ 21,5% năm 2006 lên mức khoảng 38,2% vào năm 2010. Tuy nhiên, cơ cấu trình độ còn mỏng: nhóm lao động có trình độ đại học và trên đại học chỉ chiếm khoảng 11,4% tổng lực lượng lao động tại thời điểm ngày 01/06/2010, còn lại phần lớn là sơ cấp nghề và công nhân kỹ thuật chưa qua sát hạch chuẩn quốc gia.
Thứ hai, sự chuyển dịch cơ cấu việc làm diễn ra nhanh chóng nhưng chất lượng lao động chưa tương thích. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm mạnh từ 28,6% năm 2000 xuống còn 12,3% năm 2010; ngược lại, khu vực công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ tăng trưởng vượt bậc, chiếm lần lượt 43,1% và 44,6% tổng lao động. Dẫu vậy, trên 60% số lao động chuyển dịch từ nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp chỉ đảm nhận các vị trí lao động giản đơn do thiếu kỹ năng công nghệ và tác phong làm việc công nghiệp.
Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng trong mô hình tháp đào tạo. Cơ cấu đào tạo thực tế của quận Hà Đông năm 2010 phản ánh tỷ lệ xấp xỉ 1 đại học : 1,3 trung cấp : 0,8 công nhân kỹ thuật. Đây là sự nghịch lý so với tỷ lệ chuẩn của các nền kinh tế công nghiệp phát triển (thường đạt mức 1 đại học : 4 trung học chuyên nghiệp : 10 công nhân kỹ thuật lành nghề), dẫn tới tình trạng thừa cán bộ quản lý lý thuyết nhưng thiếu trầm trọng thợ giỏi và kỹ thuật viên tay nghề cao.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên bắt nguồn từ việc tốc độ mở rộng đô thị hóa sau khi sáp nhập địa giới về Hà Nội diễn ra quá nhanh, dẫn tới hơn 15.000 hộ nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trong thời gian ngắn. Công tác đào tạo nghề và chuyển đổi sinh kế tại địa phương còn mang tính chắp vá, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế của các khu công nghiệp và doanh nghiệp dịch vụ trên địa bàn.
Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Phạm Văn Quý (2005) về nhân lực khoa học công nghệ và Đặng Bá Lãm về nhân lực công nghệ ưu tiên trong quá trình công nghiệp hóa. Đặt trong bối cảnh quốc tế, theo báo cáo của UNDP, chỉ số HDI của Việt Nam năm 2007 đạt 0,733 (xếp thứ 105), thấp hơn Thái Lan khoảng 30 bậc, Malaysia khoảng 40 bậc và cách biệt tới 80 bậc so với Singapore (HDI đạt 0,922 - xếp hạng 25). Tại các quốc gia phát triển, hàm lượng chất xám chiếm tới 70% trong tổng giá trị sản phẩm cao cấp, trong khi tỷ lệ này tại địa phương mới đạt dưới 25%.
Về mặt trực quan hóa, toàn bộ chuỗi số liệu chuyển dịch cơ cấu lao động giai đoạn 2006 - 2010 có thể được mô tả sinh động qua biểu đồ cột chồng nhiều tầng, kết hợp cùng biểu đồ hình tròn thể hiện rõ lát cắt cơ cấu trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật tại mốc điều tra ngày 01/06/2010 để thấy rõ khoảng cách bất cập giữa cung và cầu nhân lực.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, luận văn kiến nghị 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại quận Hà Đông đến năm 2020:
Thứ nhất, Hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới nguồn nhân lực chất lượng cao gắn liền với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quận Hà Đông. Cần rà soát và chuẩn hóa 100% các tiêu chí nhân lực cho từng phân ngành mũi nhọn như công nghiệp công nghệ cao, tiểu thủ công nghiệp làng nghề và dịch vụ tài chính - thương mại. Mục tiêu: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức 55% vào năm 2015 và cán mốc trên 70% vào năm 2020. Cơ quan chủ trì: UBND quận Hà Đông phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội thực hiện trong giai đoạn 2011 - 2015.
Thứ hai, Tái cấu trúc mạng lưới dạy nghề và đào tạo kỹ năng cho lao động làng nghề truyền thống và lao động nông thôn bị thu hồi đất. Tiến hành xây dựng 03 trung tâm thực hành kỹ thuật cao tại các cụm nghề Vạn Phúc, Phú Lương và Đa Sỹ; chuẩn hóa chương trình chuyển đổi nghề nghiệp cho tối thiểu 3.000 lao động mỗi năm; đào tạo kết hợp kỹ thuật truyền thống với thương mại điện tử. Cơ quan thực hiện: Phòng Kinh tế phối hợp cùng Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận giai đoạn 2011 - 2020.
Thứ ba, Đẩy mạnh chương trình kết nối cung - cầu lao động và xuất khẩu lao động có tay nghề. Định kỳ hàng quý tổ chức Ngày hội việc làm công nghệ cao; liên kết các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn với hơn 500 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu đô thị mới. Đặt chỉ tiêu xuất khẩu từ 400 đến 500 lao động kỹ thuật cao mỗi năm sang các thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc. Đơn vị thực hiện: Trung tâm Dịch vụ việc làm quận Hà Đông triển khai liên tục từ năm 2012.
Thứ tư, Xây dựng cơ chế, chính sách đột phá trong thu hút, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài, trí thức trẻ. Thực hiện chính sách hỗ trợ kinh phí một lần tương đương 20 đến 50 tháng lương cơ bản, cam kết tạo môi trường nghiên cứu độc lập cho các thạc sĩ, tiến sĩ và chuyên gia công nghệ về làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của quận; mục tiêu bổ sung ít nhất 30 cán bộ lãnh đạo, quản lý trẻ có trình độ chuyên môn cao mỗi năm. Cơ quan thực hiện: Ban Tổ chức Quận ủy cùng Phòng Nội vụ quận Hà Đông giai đoạn 2011 - 2020.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
Thứ nhất, Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo UBND cấp quận/huyện, các phòng ban chuyên trách về Nội vụ, Lao động - Thương binh và Xã hội có thể sử dụng dữ liệu thực chứng và các đề xuất của luận văn làm căn cứ hoạch định quy hoạch phát triển nhân lực trong các giai đoạn đô thị hóa nhanh.
Thứ hai, Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Công trình là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Quản trị nguồn nhân lực, đặc biệt trong việc vận dụng khung lý thuyết HDI và kỹ thuật xử lý dữ liệu điều tra chọn mẫu cấp vi mô.
Thứ ba, Các cơ sở giáo dục đại học và cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ban giám hiệu và các bộ phận phát triển chương trình có thể nắm bắt thực trạng lệch pha cung - cầu đào tạo tại cơ sở, từ đó tái cấu trúc chương trình giảng dạy sát với nhu cầu thực tế của thị trường lao động đô thị.
Thứ tư, Các hiệp hội doanh nghiệp và cơ sở sản xuất làng nghề: Cung cấp góc nhìn toàn diện về thực trạng năng suất và trình độ thợ tại chỗ, giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng chiến lược tuyển dụng, đào tạo nâng bậc tay nghề và giữ chân nhân sự chất lượng cao.
Câu hỏi thường gặp
Thứ nhất: Nhân lực chất lượng cao theo định nghĩa trong luận văn bao gồm những nhóm đối tượng nào? Luận văn xác định nguồn nhân lực chất lượng cao gồm 3 nhóm chủ chốt: đội ngũ lao động có trình độ đại học và trên đại học; cán bộ lãnh đạo quản lý và chuyên gia quản trị doanh nghiệp giỏi; cùng lực lượng công nhân kỹ thuật lành nghề có khả năng thao tác độc lập, làm chủ quy trình công nghệ hiện đại.
Thứ hai: Thực trạng mất cân đối trong cơ cấu đào tạo tại quận Hà Đông giai đoạn 2000 - 2010 thể hiện cụ thể ra sao? Số liệu khảo sát ngày 01/06/2010 cho thấy tỷ lệ cơ cấu là 1 đại học : 1,3 trung cấp : 0,8 công nhân kỹ thuật. Điều này phản ánh sự thiếu hụt nghiêm trọng công nhân kỹ thuật có chứng chỉ bậc cao, dẫn tới tình trạng doanh nghiệp khó tuyển thợ có tay nghề vững.
Thứ ba: Việc sáp nhập quận Hà Đông về Thành phố Hà Nội năm 2009 đặt ra thách thức lớn nhất nào về mặt nhân lực? Theo Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 08/05/2009, việc sáp nhập thúc đẩy đô thị hóa mạnh mẽ, làm hơn 15.000 hộ nông dân mất đất sản xuất. Thách thức lớn nhất là chuyển đổi hàng nghìn lao động nông nghiệp thuần túy sang lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ mà thiếu kỹ năng nghề nghiệp.
Thứ tư: Luận văn đã sử dụng các nguồn số liệu thống kê nào để đảm bảo tính chuẩn xác khoa học? Tác giả đã tổng hợp chuỗi số liệu từ Niên giám thống kê thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2010, các báo cáo kinh tế của UBND quận Hà Đông và trực tiếp tiến hành cuộc điều tra mẫu phân tầng trên 1.250 cá nhân tại 17 phường thuộc địa bàn quận.
Thứ năm: Giải pháp nào được xem là đòn bẩy đột phá để nâng cao chất lượng lao động làng nghề truyền thống Hà Đông? Luận văn nhấn mạnh việc xây dựng 03 trung tâm thực hành kỹ thuật cao tại các làng nghề như Vạn Phúc, Đa Sỹ, liên kết dạy nghề với cấp chứng chỉ chuẩn mực, đào tạo bổ sung kỹ năng thiết kế mẫu mã và quản trị kinh doanh cho 3.000 lao động mỗi năm.
Kết luận
Nội dung toàn diện của luận văn thạc sĩ được đúc kết qua các kết quả trọng tâm sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận vững chắc về nguồn nhân lực chất lượng cao và khung đánh giá chỉ số phát triển con người HDI theo chuẩn mực quốc tế.
- Đánh giá chân thực bức tranh thực trạng lao động tại quận Hà Đông giai đoạn 2000 - 2010 qua bộ số liệu điều tra chọn mẫu 1.250 người lao động vào ngày 01/06/2010.
- Nhận diện rõ điểm nghẽn về cơ cấu tháp đào tạo bất hợp lý (1 đại học : 1,3 trung cấp : 0,8 công nhân kỹ thuật) và sức ép sinh kế của lao động nông thôn sau sáp nhập địa giới.
- Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao về quy hoạch mạng lưới, đào tạo nghề làng nghề, xuất khẩu lao động và đãi ngộ nhân tài.
- Đóng góp cơ sở khoa học và bài học thực tiễn giá trị cho công tác quản lý nguồn nhân lực tại các đô thị đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh.
Lộ trình triển khai các giải pháp được khuyến nghị thực hiện quyết liệt trong giai đoạn 2011 - 2015 và hoàn thiện đồng bộ đến năm 2020. Độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm có thể tiếp tục khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để ứng dụng hiệu quả vào công tác phát triển nhân lực tại cơ quan, đơn vị và địa phương.