Chương 1: Cơ sở lý luận chung và thực tiễn KTTN Việt Nam. 4 Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Thanh Hoá. Chương 3: Phương hướng và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế tư nhân ở Thanh Hoá. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VÀ THỰC TIỄN TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN VIỆT NAM 1.
Khái niệm kinh tế tƣ nhân và hình thức tồn tại của kinh tế tƣ nhân ở Việt Nam 1. Khái niệm Kinh tế tư nhân hoạt động ở hầu khắp các nước trên thế giới, đây là hình thức kinh tế được đánh giá là hoạt động có hiệu quả. Nhưng không phải đến nay kinh tế tư nhân mới xuất hiện mà nó đã ra đời từ phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ và lần lượt trải qua các phương thức sản xuất tiếp theo, tồn tại, phát triển cho tới ngày nay. Như chúng ta đã biết, trong học thuyết kinh tế của mình Mác và Lê nin đã đề cập đến những thuật ngữ: Sở hữu tư nhân, sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, lao động tư nhân.
Mác và Lênin chưa sử dụng khái niệm “kinh tế tư nhân, nhưng thực chất các ông đã đề cập và giải quyết vấn đề kinh tế tư nhân. Nói kinh tế tư bản chủ nghĩa là nói đến kinh tế tư nhân - một hình thức phát triển của kinh tế tư nhân trong thời đại của CNTB. Lịch sử xuất hiện KTTN rất sớm và hoạt động trên phạm vi rộng như vậy, nhưng cho đến nay vẫn chưa có được một cách hiểu thống nhất về khái niệm này, ngay cả trong một quốc gia. Ví dụ, hiện nay Trung Quốc thường sử dụng năm định nghĩa về KTTN.
(1) Khu vực phi Nhà nước: Bao gồm tất cả các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước, cả trong lĩnh vực công nghiệp cũng như nông nghiệp. (2) Khu vực phi Nhà nước, phi nông nghiệp: bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng loại trừ lĩnh vực nông nghiệp. 6 (3) Khu vực tư nhân: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ doanh nghiệp tập thể. (4) Khu vực tư nhân trong nước: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
(5) Doanh nghiệp tư nhân: Bao gồm các đối tượng không thuộc sở hữu Nhà nước nhưng loại trừ các hộ cá thể (doanh nghiệp có ít hơn 8 công nhân) hay còn gọi là hệ công thương cá thể [10, tr. Ở Việt Nam các nhà nghiên cứu cũng đã có những ý kiến khác nhau về khái niệm KTTN. Ý kiến thứ nhất cho rằng: KTTN là hình thức kinh tế dựa trên sở hữu toàn bộ hay đại bộ phận TLSX thuộc sở hữu tư nhân và thuê lao động, người chủ chiếm đoạt giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo ra [28, tr. Về hình thức kinh doanh, KTTN gồm doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần (do tư nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế [28, tr.
Quan niệm KTTN như vậy là không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể. Ý kiến thứ hai cho rằng: KTTN là khái niệm chỉ khu vực kinh tế bao gồm: Các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh thuộc nhóm các thành phần KTTN. Tiêu thức cơ bản để xác định một thành phần kinh tế, một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nào đó có thuộc kinh tế tư nhân hay không là quan hệ sản xuất, trước hết là quan hệ sở hữu. Theo đó, KTTN là một khu vực kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX (hoặc vốn) với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh như: Doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ và bộ phận các doanh nghiệp của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam [23, tr.
Ý kiến này đối tượng của KTTN rộng hơn, bao gồm các loại hình doanh nghiệp của tư nhân, các cơ sở kinh tế cá thể và cả bộ phận các doanh nghiệp của nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. 7 Ý kiến thứ ba: KTTN là một thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX (hoặc vốn) do một hoặc một nhóm người tổ chức quản lý và bóc lột lao động làm thuê. Như vậy ý kiến này đã đồng nhất KTTN với thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Ý kiến thứ tư: KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh.
Như vậy cách hiểu này thì nền kinh tế được chia thành hai khu vực (bộ phận). Khu vực kinh tế Nhà nước bao gồm: Các cơ sở kinh tế của Nhà nước, khu vực KTTN gồm: Tất cả các cơ sở kinh tế còn lại, cơ sở kinh tế cá thể, cơ sở kinh tế tập thể - hợp tác xã, cơ sở kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Những kiến trên cho thấy ở nước ta chưa có cách hiểu thống nhất về KTTN. Tiêu thức xác định, đối tượng xác định KTTN còn chưa rõ ràng và thiếu nhất quán: Nếu lấy sở hữu làm cơ sở để xác định thì tại sao trong loại hình kinh tế này lại có cả cơ sở kinh tế cá thể, cơ sở kinh tế hợp tác xã, hình thức tồn tại của thành phần kinh tế tập thể.
Trong khi Hiến pháp 1992 lại quy định nước ta có 3 loại hình sở hữu: Sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân (tuy nhiên trong thực tế cũng có những hợp tác xã hình thành bằng con đường góp vốn, mua cổ phần nhưng không phải là nhiều). Nếu căn cứ vào tiêu chí có bóc lột người lao động hay không bóc lột để phân biệt KTTN và kinh tế cá thể thì khó có thể khẳng định rằng cơ sở kinh tế cá thể có hàng chục lao động như hiện nay là không có bóc lột. Thêm vào đó, khó có thể xác định một cách chính xác khu vực kinh tế tư nhân do hiện tượng tư nhân núp bóng doanh nghiệp Nhà nước, mượn tên doanh nghiệp Nhà nước, xây dựng các “sân sau” nhằm trốn tránh việc đăng ký kinh doanh hoặc tư nhân đột lốt tập thể dưới dạng „tổ hợp” và đội lốt gia đình. sự thiếu nhất quán trong cách hiểu về KTTN sẽ dẫn đến sự khác nhau hàng chục, thậm chí hàng trăm lần khi chúng ta tổng kết con số về sản lượng, về lao động và nhiều chỉ tiêu khác, dẫn tới việc đánh giá về KTTN khó chính xác và sẽ không thể có giải pháp tối ưu cho KTTN khi gặp khó khăn.
8 Quan điểm của Đảng ta có tính nhất quán hơn và ngày càng rõ ràng khi nói về kinh tế tư nhân. Quan điểm đó được thể hiện qua một số văn bản: Một là: tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã khẳng định: Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế. Theo tinh thần này, tư nhân được phép kinh doanh không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành nghề mà pháp luật cho phép. Như vậy, Đảng đã mở đường cho KTTN hoạt động trở lại và bình đẳng với khu vực kinh tế khác.
Hai là: hiến pháp 1992 của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, được thông qua tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá VIII đã ghi rõ: “Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế quy mô hoạt động trong những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh. Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển” [24, tr. Ba là: trong văn kiện Đại hội VII của Đảng, kinh tế tư nhân được hiểu bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Trong văn kiện có đoạn viết: “KTTN được phát triển, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý hướng dẫn của Nhà nước, trong đó kinh tế cá thể tiểu chủ có phạm vi hoạt động tương đối rộng lớn, ở những đơn vị chưa có điều kiện tổ chức kinh tế tập thể, hướng kinh tế tư bản tư nhân phát triển theo con đường tư bản Nhà nước dưới nhiều hình thức”.
Bốn là: gần đây nhất trong các Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng khoá IX đã ghi rõ: “kinh tế tư nhân gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Trong các văn bản thể hiện quan điểm của Đảng ta về kinh tế tư nhân đều có điểm nhất quán và ngày càng rõ ràng. Đó là: công nhận sự tồn tại của kinh tế 9 tư nhân một cách bình đẳng, với nhiều hình thức hoạt động khác nhau. Hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân.
Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đồng tình với quan điểm của Đảng về cách hiểu khái niệm KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Từ đây, chúng ta có thể hiểu khái niệm KTTN như sau: Kinh tế tư nhân là bộ phận kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX ( hoặc vốn) dưới hình thức tổ chức: hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Như vậy, trong nền kinh tế nhiều thành phần của nước ta hiện nay thì bộ phận KTTN gồm hai thành phần kinh tế: kinh tế cá thể tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Ở đây tôi không xem xét hình thức tổ chức kinh tế hợp tác xã.
Từ cách hiểu trên, để làm rõ bản chất kinh tế tư nhân có thể xem xét KTTN trên các quan hệ kinh tế cơ bản sau: Xét về quan hệ sở hữu: KTTN thể hiện quan hệ sở hữu tư nhân về TLSX (hoặc vốn), cũng như phần của cải vật chất được tạo ra từ TLSX (hoặc vốn) đó. Nó bao gồm sở hữu tư nhân nhỏ và sở hữu tư nhân lớn: Sở hữu tư nhân nhỏ là sở hữu của những người lao động tự do, sản xuất ra sản phẩm nhờ lao động của chính mình và các thành viên trong gia đình (thợ thủ công cá thể, tiểu thương, hộ nông dân. Sở hữu tư nhân lớn là hình thức sở hữu tư nhân làm cơ sở cho việc hình thành các doanh nghiệp tư nhân, công ty tư nhân.