mở đầu cho giai đoạn mới trong phát triển doanh nghiệp ở Việt Nam. Nếu giai đoạn 2000 - 2005, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn chiếm ưu thế bởi các tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớn thì đến thời kỳ 2005-2014, cơ cấu doanh nghiệp trong nước thay đổi đáng kể. DNNN có xu hướng giảm dần về số lượng và quy mô trong khi doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) phát triển rất nhanh về số lượng, nhất là sau năm 2010.1 Tỷ trọng doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp ngoài nhà nước trong tổng doanh nghiệp trong nước (%) Nguồn: Tổng cục thống kê, 2014 Vai trò của DNNNN đối với sự phát triển của nền kinh tế (i) Đóng góp vào ngân sách và tạo việc làm Từ sau năm 2005, DNNNNN đã tăng trưởng lớn mạnh và đang dần thay thế vai trò của DNNN và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Hiện nay, tỷ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước vào ngân sách nhà nước là 32,7% (2014) và nhiều chỉ tiêu khác cũng chiếm tỷ trọng lớn như: lao động (58.2 Tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 2005-2014 của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước (%) (Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2014) DNNNNN tuy vẫn còn chịu nhiều “thiệt thòi” hơn các DNNN về các chính sách ưu đãi, nhưng đã dần được xác định là động lực của nền kinh tế với tăng trưởng bình quân mỗi năm tăng thêm 32155 doanh nghiệp qua đó tạo thêm 481 ngàn việc làm.2 Số lượng doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2005-2014 Lao động trong Lao động trong Năm DNNNN DNNN DNNNN DNNN 2005 98,833 2,819,056 4,086 2,037,660 2010 268,831 5,982,990 3,281 1,691,843 2015 388,232 7,148,397 3,048 1,537,560 Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2014 (ii) “Động lực” của nền kinh tế địa phương Không chỉ phát triển nhanh về số lượng, doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng có những thay đổi đáng kể về chất lượng tuy còn khiêm tốn.
Tuy nhiên, điều này cho thấy khu vực này hiện đang vẫn có xu hướng vươn lên mạnh mẽ trong tương lai. 123doc 12 Việc phân tán rải đều ở tất cả các ngành nghề và các vùng, miền địa phương giúp các DNNNN tận dụng được lợi thế cạnh tranh của từng địa phương. Đặc biệt, những ngành nghề như xây dựng, thương nghiệp dịch vụ và công nghiệp chế biến thường được ưu tiên lựa chọn do vốn đầu tư không lớn, trình độ công nghệ không quá phức tạp. Điều này có thể giúp tận dụng và giải quyết được việc làm cho lượng công nhân có trình độ tay nghề thấp ở các địa phương.
Ngoài ra, DNNNN cũng đã bắt đầu đầu tư vào một số ngành kỹ thuật cao như: công nghiệp điện tử, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Các DNNNN phát triển nhanh ở Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung; tập trung chủ yếu tại các thành phố như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hưng Yên,Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, Đà Nẵng… Năm 2016 đánh dấu một năm kỷ lục trong hoạt động thành lập doanh nghiệp mới: 110,100 doanh nghiệp mới với số vốn đăng ký 891,094 tỷ đồng, tăng 16.2% về số lượng và nguồn vốn tăng 48. Đây cũng là lần đầu tiên cả nước có trên 100,000 DN được thành lập trong một năm.2 Cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp (CSSXKDCT) Khu vực sản xuất kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (SXKDCT) được hình thành và phát triển từ rất lâu, đã trở thành một nét đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam. Khu vực này ngày càng đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế và công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước, thễ hiện qua các vai trò mấu chốt sau: Thứ nhất, song song với khu vực doanh nghiệp, khu vực SXKDCT có đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập cho người dân.
Năm 2014, khu vực này tạo ra tổng doanh thu 2,188 nghìn tỷ đồng, bình quân 468 triệu đồng/cơ sở. Doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng do khu vực này thực hiện chiếm hơn 74% tổng mức bán lẻ của toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, cũng trong năm này, với gần 8 triệu lao động, khu vực SXKDCT đã góp phần giải quyết đáng kể việc làm và cải thiện thu nhập cho những người có thu nhập thấp kể cả ở nông thôn và thành thị (TCTK, 2015). Thứ hai, khu vực SXKDCT là khu vực huy động có hiệu quả nguồn vốn trong dân chúng.
Tổng nguồn vốn của khu vực SXKDCT theo thống kê năm 2014 đạt 655 ngàn tỷ đồng, nguồn vốn bình quân 140,3 triệu đồng/cơ sở. Đa phần nguồn vốn kinh doanh dựa hoàn 123doc 13 toàn vào vốn tự có của người dân. Với 4,6 triệu cơ sở kinh doanh rải đều trên khắp các xã, phường trên cả nước đã góp phần làm giảm sự cách biệt kinh tế giữa các địa phương. Số lượng các CSSXKDCT cũng có xu hướng tăng trưởng theo thời gian.
Thứ ba, cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể là tiền đề cho việc thành lập các DN ở Việt Nam. 77% các DN siêu nhỏ, 69% DN nhỏ và 55% các DN có quy mô vừa đi lên từ mô hình sản xuất hộ gia đình, cá thể nhỏ lẻ (PCI, 2015). Thứ tư, một phần không nhỏ các cơ sở hoạt động trong các ngành nghề truyền thống, điều này góp phần bảo tồn và duy trì nét văn hóa đặc trưng của đất nước.1 Khái niệm Theo North (1990), thể chế là những quy tắc hay luật chơi do con người tạo ra để điều chỉnh và định hình các tương tác của mình. Thể chế bao gồm những luật lệ chính thức hoặc phi chính thức; và cơ chế thực thi từ bên trong và bên ngoài.
Thể chế chính thức được hệ thống hóa trong pháp luật và mang tính cưỡng chế thực thi bao gồm hiến pháp, các bộ luật, điều luật, hiến chương, văn bản dưới luật…Trong khi đó, thể chế phi chính thức dựa trên nền tảng các giá trị xã hội và các cơ chế thực thi khác chẳng hạn như niềm tin. Việc phân định thể chế chính thức và thể chế phi chính thức dựa trên sự xem xét về mức độ thực thi chứ không phải dựa trên hình thức của các loại quy tắc. Thể chế tồn tại trên văn bản hoặc bất thành văn, từ trong một xã hội đơn giản đến phức tạp (North, 1990). Thể chế phi chính thức có thể là cơ sở của các thể chế chính thức, và ngược lại, các quy tắc chính thức có thể bổ sung cho các hạn chế của quy tắc phi chính thức và làm tăng tính hiệu quả của chúng.
Thể chế là một khái niệm rất rộng, có thể bao gồm các thể chế kinh tế và các thể chế chính trị. Trong nghiên cứu này, thể chế được xem xét là các thể chế kinh tế chính thức, có liên quan trực tiếp đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.2 Tác động của thể chế đến tinh thần doanh nhân Thể chế thúc đẩy kinh doanh thông qua tính cạnh tranh và đổi mới sáng tạo (Acemoglu và Robinson, 2012). Thể chế quan trọng đối với cả doanh nghiệp mới thành lập và doanh nghiệp hiện hữu trên thị trường vì nó làm giảm sự không chắc chắn trong dài hạn và khiến 123doc 14 cho chi phí giao dịch thấp hơn (Coase, 1960; North, 1990; Williamson, 1985). Thể chế hỗ trợ doanh nghiệp bằng cách hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh thông qua tiến trình xác định liên minh giữa các bên hữu quan (Aldrich và Fiol, 1994).
Việc tuân thủ các “luật chơi” giúp doanh nghiệp hợp pháp hóa trong việc nhận thưởng, phạt thông qua các quy tắc xác định xem các hoạt động kinh doanh có lợi hay hại cho xã hội. Tỷ lệ của các hoạt động kinh doanh không chỉ phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của cá nhân mà nó còn phụ thuộc rất nhiều vào việc liệu các yếu tố thể chế khác nhau có tạo thuận lợi hay rào cản cho tinh thần doanh nhân hay không (Fogel và cộng sự, 2006). Những rào cản về thể chế làm cản trở hoạt động kinh doanh được nhấn mạnh lần đầu tiên bởi Baumol (1990) và được phát triển bởi các nhà kinh tế khác gồm McMillan và Woodruff (1992, 2002), Soto (2000), Sobel (2008) bao gồm: sức mạnh của việc thực thi pháp luật, rào cản hành chính đối với sự gia nhập thị trường, quyền sở hữu, chi trả ngoài vòng pháp luật và thiếu vắng các cơ chế hỗ trợ. Yếu tố thể chế có tác động mạnh nhất đến tinh thần doanh nhân chính là quyền sở hữu (Soto, 2000; McMillan và Woodruff, 2002).
Quyền sở hữu không những chỉ giúp doanh nghiệp bảo tồn tình trạng hiện có của mình mà nó còn góp phần thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới, khám phá và tạo ra các nguồn lực mới (Harper, 2003). Sự yếu kém và thiếu vắng quyền sở hữu là nguyên nhân làm hạn chế đầu tư, và không khuyến khích doanh nghiệp tái đầu tư lợi nhuận giữ lại vào các hoạt động kinh doanh (Johnson và công sự, 2000; Fogel, 2006). Bên cạnh đó, hệ thống tòa án và luật pháp bền vững đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế tư nhân (McMillan và Woodruff 2002; Djankov và cộng sự, 2004). Môi trường thể chế tốt sẽ là điều kiện thuận lợi giúp các cá nhân tự tin gia nhập thị trường và mở rộng hoạt động kinh doanh.
Ngược lại, một môi trường thể chế yếu kém, không tạo dựng được niềm tin đối với người dân trong việc giúp họ bảo vệ quyền tài sản, thiếu vắng dịch vụ hỗ trợ hay tình trạng nhũng nhiễu của chính quyền địa phương gia tăng sẽ khiến cho chi phí giao dịch tăng cao trong khi tiềm năng lợi nhuận ít cũng là những nguyên nhân khiến các doanh nghiệp rời bỏ thị trường. Nghiên cứu của Zhou (2011) cũng chỉ ra rằng việc bãi bỏ các quy định ở Trung Quốc làm tăng tỷ lệ tăng trưởng ròng của khu vực kinh tế tư nhân. Từ những kết quả nghiên cứu mối liên hệ giữa các yếu tố thể chế và tinh thần doanh nhân của các tác giả trước, trong bài viết này, tác giả đưa ra những giả thuyết sau: 123doc 15 Giả thuyết H1: Thể chế càng tốt thì số lượng doanh nghiệp ngoài nhà nước trên 1000 dân càng tăng. Giả thuyết H2: Thể chế càng tốt thì số cơ sở sản xuất cá thể trên 1000 dân càng tăng.
Thể chế ở những quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi không những chỉ tác động làm tăng số lượng doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trong khu vực kinh tế tư nhân mà nó còn làm tăng quy mô của khu vực kinh tế tư nhân, thông qua số việc làm trong các công ty tư nhân ở mỗi địa phương (Zhou, 2011).