phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu gồm 3 chương: Chƣơng 1: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay. Chƣơng 2: Thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ năm 1992 đến nay. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển KTTN ở Sóc Trăng từ nay đến năm 2010. 5 Chƣơng 1 KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY 1.
Sự tồn tại khách quan của kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần 1. Khái niệm kinh tế tư nhân Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế tồn tại ở nước ta từ lâu. Nó gắn liền với sự tồn tại của lực lượng sản xuất khi còn là thủ công, lạc hậu, phân tán. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, KTTN có những bước thăng trầm của nó.
Bước thăng trầm đó không phải do bản chất của KTTN mà do nhận thức của con người về KTTN. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đến nay, KTTN được sử dụng phổ biến ở nước ta. Trên thực tế, loại hình này hoạt động khá mạnh mẽ. Nhưng đến nay, việc xác định nội hàm của KTTN chưa được toàn diện và đầy đủ.
Hiện nay, còn nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này, sau đây là một vài quan niệm: Quan niệm thứ nhất cho rằng: KTTN là hình thức kinh tế mà toàn bộ hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân và có thuê mướn lao động, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm đoạt giá trị thặng dư do cô ng nhân lao động tạo ra [46]. Về hình thức tổ chức kinh doanh, KTTN bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (do công nhân nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế). Quan niệm KTTN như vậy không bao gồm các cơ sở kinh tế cá thể và đồng nhất KTTN với tư bản tư nhân. Quan niệm thứ hai cho rằng: “KTTN bao gồm các đơn vị kinh tế mà phần lớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (do một hoặc một nhóm tư nhân nắm cổ phần chi phối), thuê lao động sản xuất kinh doanh” [46].
Quan niệm này không phân biệt kinh tế cá thể, tiểu chủ với kinh tế tư bản tư nhân. 6 Quan niệm thứ ba cho rằng: KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh tế ngoài kinh tế nhà nước (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình). Loại ý kiến này thống nhất KTTN với khu vực kinh tế dân doanh [51]. Trên đây là những quan niệm khác nhau về KTTN.
Chính vì còn nhiều quan niệm khác nhau về KTTN như vậy, cho nên tôi tán đồng với quan niệm có tính phổ biến của các nhà kinh tế hiện nay như sau: Khái niệm: Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và tương ứng với cách quản lý, phân phối phù hợp với hình thức sở hữu đó. - Xét về quan hệ sở hữu: Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của các nhà sản xuất, kinh doanh tư nhân đối với tư liệu sản xuất, tiền vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Với hai mức độ: + Sở hữu tư nhân nhỏ hay còn gọi là sở hữu tư nhân cá thể, là hình thức sở hữu của những người sản xuất nhỏ, bao gồm cả những người sản xuất hàng hoá nhỏ và những người sản xuất tự túc, tự cấp. + Sở hữu tư nhân lớn là hình thức sở hữu tư nhân làm cơ sở cho việc hình thành các doanh nghiệp tư nhân, công ty tư nhân và các doanh nghiệp đan xen các hình thức sở hữu hỗn hợp.
- Xét về quan hệ quản lý: Xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế tư nhân, quan hệ quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn. Quan hệ sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành, phân công công việc nội bộ gia đình, giữa các thành viên gia đình với nhau. Quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý với người bị quản lý. - Xét về quan hệ phân phối: Trong KTTN, quan hệ phân phối dựa trên cơ sở các loại hình sở hữu tư nhân khác nhau.
Đối với các cơ sở sản xuất kinh 7 doanh mà người sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê mướn nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối theo nội bộ chủ thể kinh tế đó. Còn đối với các cơ sở kinh doanh lớn, chủ sở hữu tư liệu sản xuất (hay vốn) sử dụng lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất căn cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và sở hữu tư bản. Tất nhiên, trong các chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì quan hệ phân phối cũng có sự khác biệt nhất định [28, tr. Những vấn đề vừa nêu là những quan niệm khác nhau về KTTN.
Mặc dù việc nhìn nhận KTTN còn nhiều điểm chưa đồng nhất, nhưng nhìn chung tất cả đều thừa nhận KTTN dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với động lực chủ yếu là lợi ích cá nhân và mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Cho nên, trong bản thân nó đã hàm chứa những ưu thế và khuyết tật nhất định. Vấn đề đặt ra là cần phải hiểu rõ mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó để có biện pháp, chính sách và tạo môi trường phù hợp nhằm phát huy những ưu thế và khắc phục những khuyết tật, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. * Ưu thế của KTTN: Mục tiêu hoạt động thường rõ ràng, đơn giản, gắn với đáp ứng nhu cầu sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, khác với doanh nghiệp nhà nước thường chịu sự chi phối của một hệ thống mục tiêu không rõ ràng, có khi các mục tiêu mâu thuẫn với nhau.
Nguồn gốc vốn đầu tư sản xuất kinh doanh từ tiền túi của họ nên phải tính đến hiệu quả trong kinh doanh và khả năng bảo toàn vốn. Quy mô, hình thức và loại hình sản xuất kinh doanh rất đa dạng, đáp ứng nhu cầu thị trường. Có thể nói thị trường cần gì, thì KTTN có thể đáp ứng kịp thời, cả về thời gian và chất lượng. Tổ chức bộ máy quản lý cũng như bộ máy sản xuất kinh doanh gọn nhẹ, linh hoạt.
Hình thức kinh doanh và khả năng thu hút vốn, tuyển dụng lao động đa dạng, phong phú. * Hạn chế của KTTN: 8 Kinh tế tư nhân gắn với lợi ích và động lực cá nhân, nếu Nhà nước quản lý không tốt dễ chạy theo lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích lâu dài và lợi ích cộng đồng. Vì mục tiêu lợi nhuận cao, nên KTTN dễ dàng bỏ qua những lĩnh vực không có lợi ích trước mắt cho họ nhưng rất cần cho xã hội. Đồng thời trong cạnh tranh, KTTN mang nặng tính triệt tiêu lẫn nhau.
Quy mô hoạt động của KTTN thường nhỏ, phân tán nên khả năng cạnh tranh, đặc biệt cạnh tranh trên trường quốc tế còn nhiều hạn chế. Từ những vấn đề phân tích ta thấy việc phân định từng thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là rất cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho Nhà nước thực hiện sự quản lý chỗt chẽ đối với từng thành phần kinh tế khác nhau trong nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta Bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nào ra đời, vận động và phát triển cũng đều dựa trên cơ sở nhất định. KTTN ở nước ta tồn tại và phát triển từ lâu, nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của lực lượng sản xuất.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, khu vực KTTN hoạt động nhỏ lẻ, rời rạc do chính sách cải tạo XHCN của ta. Trong cải tạo XHCN, cách nhìn nhận đối xử của Nhà nước đối với khu vực kinh tế này phần nào thể hiện sự thiếu bình đẳng, thậm chí có khoảng thời gian muốn xoá bỏ, triệt tiêu loại kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân và chỉ duy trì trong nền kinh tế quốc dân chỉ có hai thành phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Suốt thời gian dài, KTTN tồn tại trong tình trạng chịu những phân biệt đối xử theo hướng triệt tiêu. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với quan điểm đổi mới, Đảng đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta.
Từ đây, đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn mới, giai đoạn thừa nhận khu vực KTTN là khu vực kinh tế hợp pháp. Như vậy, KTTN được chính thức tham gia vào sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước. 9 Từ khi được thừa nhận đến nay, khu vực KTTN có mặt ở khắp các vùng, địa phương và phát triển với tốc độ nhanh chóng, góp phần khẳng định đường lối phát triển kinh tế nước ta theo kinh tế thị trường định hướng XHCN là đúng đắn, không chỉ thế mà KTTN còn góp phần chứng minh sức sống của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Sự tồn tại, vận động và phát triển của KTTN ở nước ta vừa qua đã xác định tính tất yếu tồn tại của khu vực này.
Tính tất yếu tồn tại đó dựa trên những cơ sở sau: - Do yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH là phải phát triển lực lượng sản xuất. Do vậy, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và bước vào xây dựng xã hội mới thì một đòi hỏi cấp bách và khách quan là từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ mới, chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất, với hai hình thức sở hữu nhà nước XHCN và sở hữu tập thể, tương ứng có các thành phần kinh tế: Kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Để thực hiện điều đó không chỉ có thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể mà phải huy động tiềm lực trong xã hội. Do vậy, cần phải có sự tham gia của thành phần KTTN.