CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM 1. Kinh tế tư nhân – Khái niệm, đặc trưng và vai trò 1. Khái niệm kinh tế tư nhân (KTTN) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) đã đánh dấu một mốc quan trọng trong công cuộc đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới kinh tế. Thông qua các chính sách kinh tế mới của đất nước, KTTN được hồi sinh và phát triển trong một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước.
Đến nay, từ thực tiễn hơn 20 năm đổi mới cơ chế kinh tế nói trên, KTTN đã có chỗ đứng vững chắc và thực sự trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, xung quanh khái niệm KTTN vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau và có những cách phân loại khác nhau về các hình thức KTTN. Kinh tế tư nhân (KTTN) là một khái niệm dùng để chỉ loại hình kinh tế tồn tại trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Sở hữu là một phạm trù lịch sử, bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người với quá trình chinh phục thiên nhiên.
Sở hữu nguyên thủy là hình thức sở hữu đầu tiên của loài người, dựa trên nền sở hữu tập thể. Cùng với quá trình vận động của lịch sử, sở hữu tư nhân và KTTN xuất hiện vào cuối phương thức sản xuất công xã nguyên thủy, gắn liền với sự phân công lao động và sự hình thành kinh tế hàng hóa. Trải qua quá trình vận động và phát triển của lịch sử, KTTN không ngừng phát triển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào hình thái, quy mô và tính chất của sở hữu tư nhân. Vì vậy, KTTN có thể được hiểu là một loại hình kinh tế gồm nhiều hình thức kinh tế khác nhau dựa trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy. Đặc trưng cơ bản của kinh tế tư nhân Thứ nhất: KTTN là các đơn vị kinh doanh, hoạt động vì mục đích hàng đầu là lợi nhuận. Trong một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước hay kinh tế tập thể, mục tiêu lợi nhuận với họ không phải là hàng đầu và có một số doanh nghiệp trong lĩnh vực công cộng hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận. Trong khi đó KTTN luôn coi mục tiêu sinh lời đặt lên vị trí hàng đầu, nếu không sinh lời thì đồng nghĩa với việc phá sản.
Chính vì vậy, thước đo về mức độ sinh lời cũng phản ánh được sự phát triển lớn mạnh của khu vực kinh tế này. Đương nhiên để sinh lời thì KTTN phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phải luôn đổi mới công nghệ và quản lý…và đây chính là điều khiến cho KTTN luôn năng động, linh hoạt và là động lực phát triển cho nền kinh tế. Như vậy, KTTN hoạt động kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận là hàng đầu, đó cũng chính là đặc điểm khác biệt so với một số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước. Thứ hai: KTTN có quy mô đa dạng và khả năng tối ưu hóa tổ chức sản xuất.
Với đặc điểm hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh nên KTTN luôn phải lựa chọn các quy mô phù hợp để tối ưu hóa tổ chức sản xuất, cũng chính vì lẽ đó mà KTTN tồn tại với quy mô rất đa dạng, từ các công ty xuyên quốc gia khổng lồ cho tới doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây cũng là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước thường có quy mô khá lớn, rất ít các doanh nghiệp quy mô nhỏ. Lý do tồn tại các doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn ở một số nước bởi lẽ, một số doanh nghiệp cung cấp hàng hóa công cộng hoặc vì một lý do nào đó mà doanh nghiệp đó được tồn tại độc quyền nên quy mô lớn mới hiệu quả.
Tuy nhiên trên thực tế các doanh nghiệp quy mô lớn thuộc This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 6 sở hữu nhà nước thường mở rộng quy mô không vì sự tối ưu hoá sản xuất mà vì động cơ muốn mở rộng doanh nghiệp để có thêm các đặc quyền và uy lực của người lãnh đạo. Điều này khác với KTTN, quy mô sản xuất có thể mở rộng hoặc thu hẹp để đạt mục tiêu tối ưu hoá sản xuất. Cũng chính vì khả năng lựa chọn quy mô sản xuất hợp lý mà các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân sử dụng lao động một cách hiệu quả. Các chủ doanh nghiệp tư nhân thường căn cứ vào yêu cầu thực sự của công việc để tuyển chọn người và căn cứ vào năng lực đóng góp của người lao động để có cơ chế trả công hợp lý, khuyến khích được người lao động và đào tạo được một đội ngũ doanh nhân và công nhân kỹ thuật lành nghề cho nền kinh tế.
Đồng thời chủ doanh nghiệp cũng có thể sa thải ngay tức thì những lao động yếu kém, không hiệu quả. Đây cũng là điểm khác biệt với cơ chế trả công một cách bình quân chủ nghĩa trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước. Thứ ba: KTTN là các đơn vị kinh tế có tính năng động và linh hoạt cao trong hoạt động sản xuất – kinh doanh. KTTN ra đời cùng với sự xuất hiện của nền sản xuất hàng hóa, nó phát triển một cách tự nhiên và đây là điểm khác biệt với các doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước hay sở hữu tập thể, các doanh nghiệp này thường được ra đời với sự nỗ lực nhân tạo của Nhà nước và tập thể, tiếp theo là hàng loạt các ưu đãi để chúng tồn tại và phát triển.
Sức sống của nền KTTN thể hiện ở tính năng động và linh hoạt. Với một ý tưởng kinh doanh khả thi sẽ có thể tức thì được hiện thực hóa bởi các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc khu vực tư nhân. Quá trình ra quyết định nhanh chóng và gọn nhẹ đó chỉ có được ở các tổ chức kinh doanh thuộc khu vực tư nhân. Cũng vì sự ra đời là khách quan và tính năng động, linh hoạt cao nên KTTN có khả năng tồn tại và thích ứng với mọi hoàn cảnh khắc nghiệt nhất của nền kinh tế.
Thực tế cho thấy trong thời gian dài, ở các nước xã hội chủ nghĩa trước đây KTTN vẫn tồn tại ở những loại hình và mức độ khác This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 7 nhau trong một số lĩnh vực cho dù nó bị Nhà nước cấm đoán và phong toả ở mọi phương diện. Thực tế cũng cho thấy khi các chính sách cấm đoán ở các quốc gia này được nới lỏng đôi chút thì KTTN hồi sinh và phát triển mạnh mẽ như “nấm sau mưa”. Trong thời kỳ trước đổi mới, khu vực tư nhân ở Việt Nam vẫn tồn tại xét ở góc độ khu vực tư nhân phi chính thức. Sau đổi mới kinh tế, khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ mà không nhận được sự ưu ái của Nhà nước.
Các chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ yêu cầu được đối xử công bằng và bình đẳng với các thành phần kinh tế khác chứ họ không yêu cầu sự ưu ái của Nhà nước đối với họ. Điều này minh chứng rõ tính năng động và linh hoạt của KTTN trong bất kỳ hoàn cảnh kinh tế nào. Thứ tư: KTTN hoạt động dựa trên sự thống nhất giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản. Vì KTTN dựa trên hình thức sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, cho nên sự tồn tại dưới hình thức là các loại hình doanh nghiệp hay hộ gia đình, người sản xuất nhỏ thì về bản chất nó vẫn thuộc sở hữu tư nhân.
Người chủ sở hữu có quyền quyết định hoàn toàn mọi quá trình sản xuất kinh doanh và đương nhiên các quyết định đó đi liền với quyền lợi và trách nhiệm của chính họ. Nguyên tắc hoạt động của KTTN là “bốn tự”: i) tự bỏ vốn, ii) tự tổ chức, iii) tự chủ trong kinh doanh và iv) tự bù lỗ. Đây là cơ chế để gắn kết kết quả hoạt động (lợi ích) với năng lực hoạt động của chính các chủ doanh nghiệp tư nhân. KTTN hoạt động bởi chính vốn liếng của mình (cho dù là vốn vay) nên mọi quyết định phải được cân nhắc kỹ lưỡng và mang lại hiệu quả, tức phải sinh lời, phải làm cho hoạt động kinh doanh luôn phát triển, đồng vốn phải không ngừng lớn lên.
Điều này khác biệt với các giám đốc doanh nghiệp Nhà nước hay nhà quản lý trong kinh tế tập thể, họ hoạt động không dựa trên vốn hay không hoàn toàn trên đồng vốn của chính mình mà đó là vốn liếng của Nhà nước, của tập thể. Quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản trong các đơn vị kinh tế này không có sự thống nhất, chính vì vậy mà trách nhiệm và quyền This document is created by GIRDAC PDF Creator Pro trial version Luan van GIRDAC PDF Creator Pro full version does not add this green footer Full version can be ordered from http://www.com/Products/Buy.htm 8 lợi thường không đi liền với nhau, do đó các quyết định của họ sẽ có thể không phản ánh sự thận trọng, kỹ lưỡng và tính hiệu quả. Mục đích lãnh đạo của họ có thể không chỉ là làm cho doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận mà là các mục đích khác như thăng tiến ở một chức vụ quản lý khác cao hơn. Trên đây là các đặc điểm rõ nét nhất về khu vực KTTN ở các nước khi so sánh với khu vực kinh tế công cộng và đây cũng là những ưu thế của KTTN so với kinh tế công cộng trong tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên KTTN cũng có mặt trái của nó mà chính vì lẽ đó, sự tồn tại khu vực kinh tế công cộng ở mọi quốc gia là khách quan và cần thiết bởi vai trò của chúng trong việc cung cấp hàng hoá công cộng và một số hàng hoá - dịch vụ khác mà khu vực tư nhân cung cấp không hiệu quả xét về khía cạnh hiệu quả xã hội.