Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển kinh tế tư nhân Chương 2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai Luan van 3 Chương 3. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Hiện nay ở nước ta, khu vực kinh tế tư nhân đang dần chiếm vai trò rất quan trọng. Từ sau đại hội toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) công nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhân, sau đó luật doanh nghiệp năm 2000 và gần đây nhất là luật doanh nghiệp năm 2005. Cùng theo đó là nhiều chỉ thị, nghị quyết, chính sách của Đảng và Nhà nước đã giúp cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ. Cũng từ đó nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế tư nhân đã được tiến hành từ phương diện lý thuyết cho đến nghiên cứu thực tiễn cho cả nước và từng địa phương - Bài báo “Phát triển kinh tế tư nhân – Xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” tác giả Đặng Minh Tiến tạp chí Triết học.
Về nhận thức, chúng ta thừa nhận kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với lao động của các chủ thể nền kinh tế và lao động làm thuê, bao gồm: kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Tại Đại hội lần thứ X, Đảng ta tiếp tục khẳng định thành phần kinh tế tư nhân bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. - Trong cuốn “Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay” do Hồ Văn Vĩnh chủ biên (2002). Tác giả đã phân tích thực trạng hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân và còn phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân.
Mục đích tìm ra những khó khăn, trở ngại để tiếp tục tháo dỡ, hoàn thiện. Trên cơ sở đó nhóm tác giả đã đưa ra khuyến nghị, phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta như sau: + Định hướng chiến lược phát triển kinh tế tư nhân: Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ thì tập trung vào một số ngành nghề sử dụng tiềm năng về vốn, Luan van 4 sức lao động, tay nghề từng gia đình, đặc biệt là hướng vào phát triển sản xuất và chế biến nông – lâm – thủy sản. Đối với kinh tế tư bản tư nhân cần khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ, xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài và kinh doanh ra nước ngoài. + Tiếp tục đổi mới pháp luật và các chính sách đối với kinh tế tư nhân: Về pháp luật: tiếp tục đổi mới pháp luật, tạo cơ sở pháp lý minh bạch, thông thoáng để kinh tế tư nhân hoạt động bình đẳng.
Về chính sách: tiếp tục hoàn thiện các chính sách ruộng đất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách vốn và tín dụng ngân hàng, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách thương mại và giá cả, chính sách lao động – việc làm – đào tạo nguồn nhân lực + Tăng cường chức năng tổ chức của hệ thống quản lý nhà nước về kinh tế đối với kinh tế tư nhân. - Bài báo “Đẩy mạnh phát triển kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập nền kinh tế thế giới” của tác giả Võ Xuân Tiến. Nói đến kinh tế tư nhân là nói đến khu vực kinh tế tư nhân, khu vực mà về quan hệ sở hữu gồm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Mặc dù về mặt lý luận, quan điểm thì kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân là hai thành phần kinh tế khác nhau, khác nhau về trình độ phát triển lực lượng sản xuất và bản chất quan hệ sản xuất.
Nhưng trong thực tế, việc phân định rạch ròi ranh giới đâu là kinh tế cá thể, tiểu chủ đâu là kinh tế tư bản tư nhân không phải là đơn giản. Bởi hai thành phần này vận động, phát triển, biến đổi không ngừng cũng như sự ảnh hưởng của các yếu tố thời đại, đặc điểm ngành nghề, lĩnh vực sản xuất… Nếu kinh tế cá thể là kinh tế của một hộ gia đình hay một cá nhân hoạt động dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao động, không thuê mướn lao động bên ngoài, thì kinh tế tiểu chủ là hình thức có thuê mướn lao động bên ngoài mặc dù vẫn dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và lao Luan van 5 động làm thuê. Tuy nhiên, quy mô về vốn đầu tư, lao động thì kinh tế tiểu chủ vẫn còn nhỏ. Về thành phần kinh tế tư bản tư nhân, mà hình thức thể hiện là các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân.
Kinh tế tư bản tư nhân có quy mô sản xuất lớn, kỹ thuật sản xuất tiến bộ, công nghệ hiện đại, tuy nhiên vẫn được tiến hành dựa trên tư liệu sản xuất và lao động tư nhân. Chính những yếu tố này đã làm cho các loại hình tổ chức sản xuất của kinh tế tư nhân tuy khác nhau nhưng vẫn có chung bản chất, có chung đặc tính tư nhân. - Bên cạnh đó, có thể kể ra một số công trình nghiên cứu như: GS.TS Vũ Đình Bách “Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, Tạp chí Cộng Sản, số 16. Vũ Đình Ánh (2004) “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nước ta”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5.
Bạch Thị Huyền (2003), “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: những vấn đề đặt ra trong quá trình hội nhập”, Tạp chí tài chính, số 11, trang 36 -37. TS Hồ Văn Vĩnh (2011), Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với kinh tế tư nhân nước ta hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ CHí Minh.TS Trịnh Thị Hoa Mai, (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập, NXB Thế giới, Hà Nội. - Trên cơ sở kế thừa những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước. Trong luận văn này, tôi hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế tư nhân trong phần nghiên cứu của mình, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trong thời gian qua ở thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai.
Từ đó, đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai trong thời gian tới. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. KHÁI QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN 1. Khái niệm kinh tế tƣ nhân và phát triển KTTN a.
Khái niệm về kinh tế tư nhân Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX của Ban chấp hành Trung ương Đảng là văn bản có ý nghĩa quan trọng cho việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay. Cùng với quá trình phát triển với những bước thăng trầm, nhưng cho tới nay ở nước ta vẫn chưa có một văn bản nào định nghĩa rõ ràng về KTTN, những quan niệm về KTTN vẫn chưa thống nhất và được hiểu theo nhiều cách khác nhau, tiêu thức phân loại vẫn chưa rõ ràng nhất quán. Tựu trung lại, KTTN chủ yếu vẫn được xem xét chủ yếu trên khía cạnh sở hữu – sở hữu tư nhân. Từ đó có thể hiêu khái niệm KTTN qua hai cấp độ khác nhau.
Theo cấp độ khái quát: được xem xét trên góc độ khu vực nhà nước và khu vực ngoài quốc doanh. KTTN là khu vực kinh tế nằm ngoài quốc doanh (ngoài khu vực kinh tế nhà nước), bao gồm các doanh nghiệp trong và ngoài nước, trong đó tư nhân nắm trên 50% vốn đầu tư. KTTN cần được hiểu là tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không dựa trên sở hữu Nhà nước về các yếu tố của quá trình sản xuất. Đặc trưng mang tính bản chất của những doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN là họ sử dụng nguồn vốn của chính họ và có quyền được hưởng thành quả lao động mà họ làm ra.
“DNTN hoạt động bằng tiền túi và cho chính cái túi tiền mình”. Đó là điểm khác biệt quan trong giữa khu vực KTTN và khu vực KTNN trong các nền kinh tế. Nguyên tắc hoạt động của các loại hình DNTN đã được khái quát thành nguyên tắc “ bốn tự”. Đó là tự bỏ vốn, tự tổ chức, tự chủ trong kinh doanh và tự bù lỗ.
Đây là cơ chế gắn kết quả hoạt Luan van 7 động, một cơ chế hoạt động tối ưu hướng tới kết quả cao. Việc chỉ ra đặc trưng cốt lõi của KTTN sẽ hướng sự chú ý của chúng ta tới bản chất chứ không dừng lại ở hình thức của vấn đề. Theo cấp độ hẹp hơn: KTTN gồm có kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân. Thông qua cách hiểu trên, chúng ta có thể đi đến nhận định: “KTTN là khu vực kinh tế gắn liền với loại hình sở hữu tư nhân, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất tồn tại dưới các hình thức DNTN, công ty TNHH, CTCP và các hộ kinh doanh cá thể”.
Luận văn nhất trí với quan điểm này và coi đó là quan điểm chính thống để nghiên cứu và xem xét về KTTN. Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng về KTTN, vì vậy, việc phân loại KTTN rất khó khăn song lại hết sức cần thiết cho việc tìm hiểu nghiên cứu và vận dụng vào thực tế. Ở nước ta hiện nay, khái niệm KTTN chủ yếu được hiểu theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5, khóa IX: KTTN không phải là một thành phần kinh tế, mà là một khu vực kinh tế bao gồm 2 thành phần kinh tế: thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và thành phần kinh tế tư bản tư nhân. Mới nhất, theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam thì “KTTN gồm cả kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân”.